Năng lượng là hạ tầng chiến lược, đóng vai trò then chốt trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thời gian qua, các dự án đầu tư năng lượng của khu vực tư nhân đang chịu tác động từ những vướng mắc về cơ chế, chính sách cùng bài toán huy động các nguồn lực tài chính quy mô lớn. Để tháo gỡ các nút thắt này, cần có sự đồng bộ từ hạ tầng pháp lý đến giải pháp khơi thông nguồn vốn tín dụng trong và ngoài nước.
Nhận diện rào cản khiến nhà đầu tư e ngại
Thời gian qua, việc triển khai một số dự án năng lượng xuất hiện tình trạng tạm dừng hoặc chậm tiến độ. Đối với các các dự án nhiệt điện sử dụng khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) quy mô lớn như LNG Nghi Sơn, LNG Cà Ná, LNG Quỳnh Lập hay LNG Bạc Liêu... việc lựa chọn nhà đầu tư còn diễn ra rất chậm. Trong khi đó, các dự án nguồn và lưới điện quan trọng như Nhà máy thủy điện Trị An mở rộng hay hạ tầng giải tỏa công suất cho các nhà máy nhiệt điện Nhơn Trạch 3, Nhơn Trạch 4 tiếp tục gặp vướng mắc kéo dài ở khâu giải phóng mặt bằng.
Nhà máy nhiệt điện LNG Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Tăng trưởng xanh cho rằng, những vướng mắc trên đến từ cả nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, đòi hỏi phải có những giải pháp tháo gỡ mang tính căn cơ và đồng bộ.
Chuyên gia Hà Đăng Sơn nhận định, sau chu kỳ áp dụng giá FIT (giá ưu đãi mua điện), không ít nhà đầu tư lo ngại về sự thiếu ổn định và tính bảo đảm cho dòng vốn đầu tư dài hạn. Do đó, nhiều doanh nghiệp có xu hướng tạm dừng triển khai dự án để theo dõi các động thái tiếp theo từ cơ quan quản lý.
Ông Hà Đăng Sơn, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Tăng trưởng xanh.
"Giai đoạn chuyển tiếp giữa các khung chính sách chưa thực sự liền mạch, khiến nhà đầu tư tư nhân băn khoăn về hiệu quả của dòng vốn lâu dài và có xu hướng chậm lại để lắng nghe các chính sách mới", ông Hà Đăng Sơn nêu ý kiến.
Hệ thống khung pháp lý hiện nay liên tục được bổ sung và hoàn thiện để sát với tình hình thực tế. Mặc dù vậy, việc các quy định có sự thay đổi sau một vài năm áp dụng khiến một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc chủ động nắm bắt, nghiên cứu chuyên sâu để triển khai dự án một cách đồng bộ.
Bên cạnh đó, những biến động phức tạp của thị trường năng lượng thế giới và căng thẳng địa chính trị tại nhiều khu vực đã đẩy chi phí vật liệu xây dựng (như sắt, thép, xi măng,...) và hạ tầng tăng cao, chi phí thực tế vượt xa tính toán ban đầu trong hồ sơ nghiên cứu khả thi. Trong khi đó, việc phản ánh các biến động chi phí này vào cơ chế quản lý nhà nước chưa kịp thời, đòi hỏi các cơ quan chức năng cần thời gian thu thập dữ liệu và tính toán phương án điều chỉnh.
Giải pháp khơi thông nguồn vốn tín dụng quy mô lớn
Trước thực trạng đó, việc ban hành Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết số 68-NQ/TW về thúc đẩy kinh tế tư nhân đã tạo tín hiệu tích cực, củng cố niềm tin để các nhà đầu tư dài hạn thúc đẩy triển khai các dự án.
Theo ông Hà Đăng Sơn, để duy trì đà hồi phục và giúp doanh nghiệp thích ứng với các điều chỉnh pháp lý, vai trò đồng hành và chủ động của cơ quan quản lý nhà nước có ý nghĩa quyết định. Các cơ quan quản lý từ Trung ương đến địa phương cần chủ động tổ chức các diễn đàn đối thoại, hội thảo và chương trình tập huấn chuyên sâu. Thông qua đó, doanh nghiệp được nghe giải thích rõ ràng về bản chất, điểm mới của chính sách và phương thức thích ứng phù hợp.
Phát triển hạ tầng năng lượng đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn, trong khi nguồn vốn đầu tư công không thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu mà chỉ đóng vai trò dẫn dắt và là nguồn lực tài chính ban đầu (vốn mồi). Để thu hút hiệu quả các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển hạ tầng năng lượng, ông Hà Đăng Sơn đề xuất cần tập trung vào các giải pháp trọng tâm.
Về cơ chế huy động tài chính, nguồn vốn đầu tư công cần tập trung vào các khâu có rủi ro cao, những lĩnh vực mà khối tư nhân chưa thể tự quản lý hoặc chấp nhận rủi ro. Việc phát huy vai trò của các doanh nghiệp nhà nước cốt cán trong triển khai dự án thí điểm hoặc các công trình phức tạp sẽ tạo tiền đề thực tiễn, giúp nhà đầu tư tư nhân tự tin huy động nguồn lực tham gia.
Bên cạnh đó, việc tiếp cận và tối ưu hóa các nguồn tài chính xanh, tín dụng xanh cũng như trái phiếu xanh quốc tế được xem là giải pháp quan trọng. Mặc dù sở hữu ưu thế về lãi suất và hỗ trợ kỹ thuật, các nguồn vốn này lại đòi hỏi tiêu chuẩn, quy trình khắt khe. Do đó, cơ quan nhà nước cần sớm xây dựng cơ chế hỗ trợ, giảm thiểu chi phí tuân thủ, giúp doanh nghiệp trong nước đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và nâng cao khả năng hấp thụ vốn ngoại.
Cùng với định hướng xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế tại Việt Nam nhằm kết nối dòng vốn toàn cầu, khâu giải ngân thực tế vẫn phụ thuộc lớn vào sự phối hợp đồng bộ. Sự chủ động từ các bộ, ngành và chính quyền địa phương trong việc cải thiện môi trường đầu tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính sẽ là yếu tố quyết định để đưa các dòng vốn vào dự án một cách hiệu quả.
Việc tháo gỡ đồng bộ nút thắt cơ chế và triển khai các công cụ tài chính linh hoạt là chìa khóa để bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và nhà đầu tư. Đây chính là động lực then chốt nhằm huy động tối đa các nguồn lực, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững hạ tầng năng lượng quốc gia.
Thực hiện Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Kế hoạch hành động tại Quyết định số 3035/QĐ-BCT, Bộ Công Thương tổ chức Diễn đàn An ninh năng lượng quốc gia Việt Nam 2026 vào ngày 10/11/2026. Với chủ đề "Năng lượng tự chủ - Mạch máu của tăng trưởng hai con số", diễn đàn tập trung thảo luận các giải pháp chiến lược nhằm nâng cao khả năng tự chủ, bảo đảm an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.