![]() |
| Bà con trồng bông sẽ được hưởng các chính sách ưu tiên để yên tâm sản xuất |
Theo chiến lược phát triển ngành công nghiệp dệt - may Việt Nam định hướng đến năm 2020, thì riêng về phần nguyên liệu, mục tiêu đặt ra là phải đáp ứng từ 40.000 đến 60.000 tấn bông xơ nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa từ 60 - 70%. Vậy ngành sản xuất bông phải làm gì để đạt mục tiêu này?
Tăng diện tích
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, mặc dù năm 2014 năng suất và sản lượng bông tăng trưởng mạnh nhưng so với các loại cây công nghiệp khác, diện tích trồng bông ở các địa phương còn rất khiêm tốn. Tại các tỉnh vùng Tây Bắc, điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai, thổ nhưỡng khá phù hợp với cây bông vải. Đây cũng là vùng có truyền thống trồng bông, dệt vải từ lâu đời và thích hợp để cây bông vải phát triển. Do vậy, Sở Công Thương tỉnh Sơn La đã xây dựng chương trình phát triển cây bông vải. Dự kiến đến năm 2015 sẽ có 5.000 héc-ta và năm 2020 sẽ là 10.000 héc-ta, sản lượng đạt 25.000 tấn bông. Tỉnh cũng sẽ hình thành các cơ sở chế biến từ bông hạt ra bông xơ tại các điểm có sản lượng bông lớn, tạo điều kiện thuận lợi từng bước chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển đổi ngành nghề từ nông nghiệp sang tiểu, thủ công nghiệp, khôi phục vững chắc nghề truyền thống.
Tại các tỉnh Tây Nguyên, mới đây Công ty cổ phần Bông Tây Nguyên đã xây dựng kế hoạch phát triển cây bông vải trên địa bàn hai tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông đến năm 2020 là 19.000 - 20.000 héc-ta. Phấn đấu đưa năng suất bông hạt bình quân đạt 18 tạ/héc-ta, với sản lượng 15.000 tấn bông xơ/năm, chiếm khoảng 25% sản lượng của toàn ngành bông cả nước. Công ty ưu tiên đưa giống bông mới cho năng suất, chất lượng cao vào gieo trồng đại trà; các quy trình, kỹ thuật canh tác cũng sẽ được tiếp tục cải tiến để vừa đáp ứng yêu cầu sản xuất, vừa nâng cao chất lượng sản phẩm bông xơ. Hình thành các tổ, hội nông dân liên kết, hợp tác trồng bông để trao đổi, học tập lẫn nhau về kinh nghiệm sản xuất. Để giúp nông dân trồng bông có thu nhập cao hơn, ngay từ đầu vụ, tất cả các hộ dân ký hợp đồng trồng bông đã được Công ty cổ phần Bông Tây Nguyên hỗ trợ 100% chi phí hạt giống (8 kg/héc-ta) và ứng trước một phần phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, vật tư chuyên dùng để đầu tư cho cây bông. Công ty còn tăng giá thu mua bông hạt loại 1 và loại 2 từ 9.000 đồng lên 11.500 đồng/kg và cam kết thu mua toàn bộ sản phẩm của nông dân. Nhờ có chính sách ưu tiên này mà người trồng bông đã mặn mà hơn trước và không ngần ngại đầu tư tăng diện tích cây bông lên nhiều hơn so mọi năm. Bên cạnh đó, ngành bông khẩn trương xúc tiến hình thành Quỹ bình ổn giá bông để chủ động ứng phó với biến động của thị trường.
Giảm nhập khẩu bông xơ
Việc các địa phương mở rộng diện tích trồng bông, cũng là một trong những giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất sợi trong nước giảm nhập khẩu nguyên liệu bông xơ, nâng cao sức cạnh tranh. Nhất là trong bối cảnh hiện nay, vẫn tồn tại hiện tượng bán phá giá đối với các mặt hàng sợi filament nhập khẩu vào Việt Nam với mã hàng 5402.33 và 5402.47. Đây là các sản phẩm mà doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất đủ đáp ứng nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, chính sự cạnh tranh, chèn ép không công bằng này đã và đang khiến các doanh nghiệp sản xuất sợi trong nước gặp nhiều khó khăn, đôi khi phải bán dưới giá thành sản xuất, bán lỗ để giữ thị phần trong nước. Điều đó ít nhiều cũng sẽ tác động ngay đến giá bông xơ nguyên liệu và người trồng bông là chịu thiệt thòi nhất. Được biết mới đây Hiệp hội Bông Sợi Việt Nam đã kiến nghị Chính phủ, Bộ Công Thương, Cục Quản lý cạnh tranh chỉ đạo, hướng dẫn và hỗ trợ thực hiện các thủ tục khởi xướng điều tra chống bán phá giá sợi filament nhập khẩu với mã HS 5402.33 và 5402.47.
Theo tính toán của Hiệp hội Bông Sợi, giá thành sản xuất của các doanh nghiệp trong nước dao động trung bình từ mức 1,78 - 1,98 đô-la Mỹ/kg. Tình trạng bán phá giá này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong ngành. Vì vậy cần được ngăn chặn trong thời gian sớm nhất, nhằm lập lại môi trường cạnh tranh sòng phẳng, công bằng giữa các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Chỉ khi đó các doanh nghiệp sản xuất sợi mới có thể nâng cao lợi thế cạnh tranh và giá trị gia tăng sản phẩm may mặc xuất khẩu của Việt Nam.





