Chủ tịch nước: Quán triệt nghiêm Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Chủ tịch nước: Quán triệt nghiêm Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

“Chủ tịch nước: Quán triệt nghiêm Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, kính thưa quý vị, trên đây là bài viết được đăng tải trên báo Công Thương điện tử theo nguồn Vietnamplus.vn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Chủ tịch nước Lương Cường đã chủ trì Hội nghị Quân chính toàn quân, đánh giá kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng năm 2024.

Sáng 26/12, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng đã tổ chức Hội nghị Quân chính toàn quân đánh giá kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng năm 2024 và triển khai nhiệm vụ quân sự, quốc phòng năm 2025.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Lương Cường dự và chỉ đạo Hội nghị.

Cùng dự có Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam; Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn, cùng đại diện lãnh đạo các ban bộ ngành Trung ương.

Báo cáo tại hội nghị cho biết, năm 2024, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân triển khai đồng bộ chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thực hiện nghiêm chủ trương, chỉ đạo của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và quy định trách nhiệm nêu gương; coi trọng xây dựng, phát huy nhân tố chính trị tinh thần trong toàn quân; tiên phong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

Cùng với đó, phối hợp tổ chức các hoạt động kỷ niệm, trọng tâm là Kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, 80 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam, 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân thiết thực, ý nghĩa, tương xứng với quy mô, tầm vóc của sự kiện, khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc, khát vọng vươn lên, để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế. Mặt khác, công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng được triển khai chủ động, sâu rộng, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần củng cố lòng tin, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước, Quân đội, bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa.”

Về phương hướng nhiệm vụ trong năm 2025, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân chủ động rà soát chương trình, kế hoạch công tác, quán triệt, thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư tại Phiên họp Quân ủy Trung ương lần thứ 12, “tăng tốc, bứt phá, quyết tâm hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI.”

Trong số đó, tập trung nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, đánh giá tình hình, tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định đúng đắn chủ trương, sách lược quân sự, quốc phòng đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả trước mắt và lâu dài. Đồng thời phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, khu vực phòng thủ các cấp vững chắc.

Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc các chủ trương, chỉ đạo của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Chủ động triển khai linh hoạt, thực chất, hiệu quả các hoạt động đối ngoại quốc phòng cả song phương và đa phương. Chủ động, tự lực, tự cường, bảo đảm đầy đủ, kịp thời hậu cần, kỹ thuật cho các nhiệm vụ.

undefined
Chủ tịch nước Lương Cường phát biểu chỉ đạo. (Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN)

Phát biểu tại Hội nghị, Chủ tịch nước Lương Cường cho biết, năm 2024, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức, song dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt, kịp thời của Đảng, Nhà nước; sự quản lý chặt chẽ, điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành, các địa phương và cả hệ thống chính trị, đất nước ta đã đạt được những kết quả khá toàn diện trên nhiều lĩnh vực; dự kiến sẽ đạt và vượt toàn bộ 15/15 chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của năm 2024.

Trong thành tựu chung của đất nước, quân đội có những đóng góp rất quan trọng, đã hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất.

Chủ tịch nước đánh giá, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Tham mưu, chỉ đạo chặt chẽ, triển khai đồng bộ chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Toàn quân tiếp tục giữ vững và phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc.

Chủ tịch nước nhận xét quân đội luôn giữ vững bản chất cách mạng, quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, xung kích đi đầu, không quản ngại hy sinh, gian khổ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình. Toàn quân luôn quán triệt sâu sắc, nắm chắc nhiệm vụ, nêu cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu cao.

Công tác xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội tiếp tục được đặc biệt coi trọng. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ, dân vận, chính sách được triển khai chặt chẽ, tích cực, sáng tạo, hiệu quả.

Công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng tiếp tục được tiến hành tích cực, chủ động, linh hoạt, thực chất, hiệu quả; là điểm sáng trong những trụ cột của đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước nhiệt liệt biểu dương và chúc mừng những thành tích mà Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cán bộ, chiến sỹ, công nhân, viên chức toàn quân đạt được trong năm 2024.

Bên cạnh kết quả đạt được, Chủ tịch nước cũng đề cập tới một số hạn chế, tồn tại, đồng thời đề nghị Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo và có giải pháp hữu hiệu để khắc phục ngay những hạn chế, khuyết điểm đã chỉ ra; không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Nhất trí về cơ bản với các phương hướng nhiệm vụ, giải pháp được đề ra, Chủ tịch nước đề nghị Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng; chủ động, nhạy bén, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, có đối sách xử lý linh hoạt, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước.

Chủ tịch nước yêu cầu toàn quân quán triệt, thực hiện nghiêm túc đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, dựa vào dân, “dân là gốc." Phối hợp triển khai cụ thể các giải pháp xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, “thế trận lòng dân," phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ các cấp vững chắc. Đồng thời thực hiện tốt chủ trương kết hợp quốc phòng với kinh tế, kinh tế với quốc phòng; nghiên cứu, điều chỉnh bố trí chiến lược phù hợp với điều chỉnh tổ chức Quân đội trong tình hình mới.

Cùng với đó, Chủ tịch nước nhấn mạnh yêu cầu tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội; duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc vùng trời, vùng biển, biên giới, nội địa, không gian mạng.

Phối hợp với các lực lượng giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn cả nước; thực hiện tốt nhiệm vụ phòng thủ dân sự, chủ động ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống.

Các bên liên quan tích cực nghiên cứu, phát triển nghệ thuật quân sự, tác chiến ứng phó hiệu quả với các loại hình chiến tranh công nghệ cao; đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, đào tạo, diễn tập, đáp ứng điều kiện tác chiến mới.

Chủ tịch nước đề nghị tiếp tục chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, Đảng bộ Quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Đồng thời, chuẩn bị chu đáo mọi mặt, nhất là về văn kiện và nhân sự, tổ chức thành công đại hội đảng các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030 và Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII - Đại hội Đảng bộ Quân đội phải thật sự là đại hội mẫu mực, tiêu biểu, trí tuệ.

Chủ tịch nước yêu cầu tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, thông tin, tuyên truyền; triển khai hiệu quả công tác bảo vệ, dân vận, chính sách, hoạt động “đền ơn, đáp nghĩa”, phong trào thi đua “dân vận khéo,” “đơn vị dân vận tốt,” góp phần củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc.

Cùng với đó, cần bảo đảm đầy đủ, kịp thời hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng và các mặt công tác khác đáp ứng các nhiệm vụ cả thường xuyên và đột xuất. Bên cạnh đó là triển khai hiệu quả các chương trình, đề án, dự án ngành hậu cần, kỹ thuật, công nghiệp quốc phòng, khoa học quân sự, với tinh thần chủ động, tích cực, phát huy nội lực, tự lực, tự cường. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng hiện đại, lưỡng dụng.

Mặt khác, Chủ tịch nước lưu ý, cần tích cực, chủ động triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc theo phương châm “Thêm bạn, bớt thù,” “Dĩ bất biến, ứng vạn biến"; nâng cao hiệu quả hợp tác quốc phòng song phương, đa phương. Tham gia tích cực, có trách nhiệm các hoạt động đối ngoại quốc phòng, diễn đàn đa phương khu vực, quốc tế, gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.

Nhân dịp chuẩn bị đón năm mới 2025, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chủ tịch nước chúc toàn thể cán bộ, chiến sỹ toàn quân và lực lượng dân quân tự vệ cả nước sức khỏe, hạnh phúc; tiếp tục đoàn kết, thống nhất cao, nỗ lực khắc phục khó khăn, vượt qua mọi thách thức, giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới.

Kính thưa quý vị! Chương trình Podcast - Thời sự của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe. Rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Bài 2: Đại tướng Nguyễn Quyết với dấu ấn “vươn ra Biển Đông - làm giàu, đánh thắng”

Bài 2: Đại tướng Nguyễn Quyết với dấu ấn “vươn ra Biển Đông - làm giàu, đánh thắng”

“Đại tướng Nguyễn Quyết - Vị tướng tài năng, đức độ, nhất mực trung thành của Đảng ta, Quân đội ta - Bài 2: Đại tướng Nguyễn Quyết với dấu ấn “vươn ra Biển Đông - làm giàu, đánh thắng”, kính thưa quý vị, trên đây là bài viết của Nhà văn PHÙNG VĂN KHAI, được đăng tải trên báo Quân đội nhân dân điện tử tại trang web qdnd.vn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Đại tướng Nguyễn Quyết, trong cuộc đời hoạt động và cống hiến của mình, có thể nói, ở ông chính là sự hội tụ nhiều phẩm chất cao quý của một cán bộ, đảng viên cộng sản: Kiên trung, gương mẫu, tận tụy, sáng tạo và nhất là tinh thần đoàn kết máu thịt với nhân dân.

Thế hệ ông, trong đó có ông, trong mọi hoàn cảnh, nhất là trên cương vị chủ trì cơ quan hay đơn vị đều luôn tiên phong, gương mẫu, thực hiện đúng nguyên tắc của Đảng, luôn đặt lợi ích chung của Đảng, của dân tộc và Quân đội lên trên hết, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn linh hoạt và sáng tạo, đi đầu giải quyết khó khăn, thử thách và rất quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung.

Trước khi giữ cương vị trọng yếu trong Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, ở Quân khu 3, những năm cuối thập niên 70, đầu thập niên 80 của thế kỷ trước, Tư lệnh kiêm Chính ủy - Thượng tướng Nguyễn Quyết đã để lại dấu ấn khá sâu đậm về vai trò “chủ soái” của ông trong phong trào “làm giàu, đánh thắng”, “vươn ra Biển Đông làm giàu, đánh thắng” ở Quân khu 3. Phong trào này thể hiện rõ sự táo bạo và đổi mới trong cách nghĩ của một cán bộ có tầm chiến lược. Phong trào phát triển nhanh chóng, sâu rộng và có hiệu quả thiết thực, tạo nên một “hiện tượng” đối với toàn quân và cả nước thời gian đó. Nhiều chủ trương, kinh nghiệm mà quân và dân Quân khu 3 tiên phong thực hiện đã tạo tiền đề cho sự nghiệp đổi mới sau này.

Nhắc đến dấu mốc Đổi mới 1986, không thể không nhắc đến Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, một người con quê ở Hưng Yên khi đó đã rất kiên quyết, đi đầu, khởi xướng các phong trào: “Những việc cần làm ngay”; “Nói đi đôi với làm”... mà chắc chắn người đứng đầu của Đảng đã cảm nhận rất sâu sắc từ thực tiễn các thành quả của Quân khu 3 - hậu phương lớn trong chiến tranh cũng là vựa người, vựa của, nơi cung cấp nhân tài, vật lực, trí tuệ và cả những đột phá về cách nghĩ, cách làm để làm tiền đề cho công cuộc Đổi mới của đất nước.

Trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 3, vị tướng hiểu rất sâu sắc rằng, sau hai cuộc chiến tranh, khi hai đầu biên giới phía Nam, phía Bắc mới vừa im tiếng súng, nền kinh tế quốc dân gặp vô vàn khó khăn vì những bao vây, cấm vận ngặt nghèo của các nước tư bản. Một khó khăn rất lớn nữa, đó là đã xuất hiện dấu hiệu rạn nứt, suy thoái, lung lay của khối xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô, càng khiến cục diện xây dựng đất nước, nâng cao đời sống của toàn quân và toàn dân ta gặp rất nhiều khó khăn.

Với tư duy nhạy bén và bề dày kinh nghiệm từng được tôi rèn trong lửa đỏ các cuộc chiến tranh, vị Tư lệnh của vùng đất châu thổ sông Hồng đã cùng với tập thể lãnh đạo Quân khu 3 quyết định vươn ra Biển Đông để làm giàu, đánh thắng. Nói thì đơn giản như vậy, văn bản cũng có thể lập ra, hoạch định trên giấy không khó khăn gì nhưng bắt tay vào thực hiện những công việc thực hành mới là vô cùng khó khăn, phức tạp.

Vị tướng trận từ những ngày đầu đi theo cách mạng hiểu rất rõ ràng đã là người chiến sĩ phải luôn ở tuyến đầu, phải chống chịu sóng gió và vượt qua nó để giúp người dân có cơm ăn, áo mặc, phải xây dựng đời sống hạnh phúc cho nhân dân sau các cuộc chiến tranh với vô vàn mất mát, hy sinh. Nhưng làm giàu phải trên tinh thần thượng tôn pháp luật, tuyệt đối không được bất chấp các quy luật về kinh tế-xã hội, khẩn trương, quyết liệt nhưng không được nôn nóng, ăn xổi ở thì. Tất cả những vấn đề đặt ra đó đều đã được vị tướng cân nhắc hết sức kỹ lưỡng.

Từ thực tiễn của các tỉnh miền biển như Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà - Nam - Ninh, nhân dân gặp khó khăn về vươn khơi, lấn biển, thiếu thốn các phương tiện khai thác thủy hải sản; đồng đất ven biển bị xâm thực mặn khó trồng cấy; cư dân thiếu cơ sở vật chất để tạo dựng các làng nghề. Chưa kể, thói quen quan liêu, bao cấp, trông chờ, ỷ lại và nhất là e ngại cách thức làm mới, sợ cái mới, cầu an đã ăn sâu, bám rễ trong đông đảo tầng lớp nhân dân.

Nhìn nhận rõ bản chất của vấn đề, vị tướng đứng đầu Quân khu 3 đã phát động phong trào thi đua: “Vươn ra Biển Đông - làm giàu, đánh thắng” mà nòng cốt là các đơn vị trong toàn quân khu kết hợp với nhân dân trên địa bàn thực hiện từng khâu, từng việc, chủ động, sáng tạo, dựa trên sức mình là chính. Khi đó, ở các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà - Nam - Ninh đâu đâu cũng phấn chấn thi đua lao động sản xuất, quân với dân khăng khít một lòng, một dạ vượt mọi khó khăn. Nhiều tập thể tiên tiến với sự chủ động, sáng tạo nổi trội đã trở thành mô hình mẫu. Nhiều cá nhân tiêu biểu với thành tích lao động sản xuất, kinh doanh có hiệu quả càng khiến phong trào đi vào chiều sâu, giải quyết bài toán khó của nền kinh tế đang rơi vào trì trệ lúc bấy giờ. Điểm sáng trên mặt trận kinh tế của quân và dân Quân khu 3 đã chứng minh cho phong trào thi đua: “Vươn ra Biển Đông - làm giàu, đánh thắng”.

undefined
Đại tướng Nguyễn Quyết giữ thói quen đọc sách, báo. Ảnh: baohungyen.vn.

Một đặc điểm nổi trội của vị tướng Nguyễn Quyết là tầm nhìn xa của ông từ các phong trào thi đua để góp phần “quốc phú, binh cường”, nhất là việc xây dựng thế trận Quốc phòng toàn dân nơi vùng biển đảo. Trong phong trào kể trên, Quân khu 3 đã khai hoang, lấn biển ở các tỉnh trên địa bàn được 55.468ha, nhiều tuyến đường xuyên ra bán đảo Đình Vũ, xuyên ra đảo Cát Hải, Cát Bà - Hải Phòng đã khiến vùng đất hoang hóa trở thành nơi canh tác với các ngành nghề làng biển. Các tuyến đảo vùng Đông Bắc thay da đổi thịt hằng ngày, nhiều làng nghề, ngư trường hoạt động sôi nổi đã đem lại lợi ích lớn cho nhân dân.

Cùng với đó, các tuyến đảo gần bờ cũng được xây dựng và phát triển theo hướng bền vững vừa là một pháo đài trong phòng thủ biển đảo vừa là một đầu cầu kết nối để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đây cũng là tiền đề để sau này khi Đại tướng Nguyễn Quyết ra thăm cán bộ chiến sĩ, quân và dân trên quần đảo Trường Sa đã có những quyết sách đã trở thành chủ trương, trở thành phương châm hành động với câu khẩu hiệu nổi tiếng: “Cả nước vì Trường Sa, Trường Sa vì cả nước”. Đây cũng là dấu mốc hết sức quan trọng đánh dấu sự trưởng thành, lớn mạnh của Quân đội ta trong việc bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của đất nước.

Hôm nay, mỗi khi giở lại từng trang lịch sử, nhất là những trang quân sử hào hùng của quân và dân Quân khu 3, chúng ta càng thấy rõ sự vinh dự, tự hào, nhất là niềm tin sâu sắc vào sự quyết đoán và phương châm chiến lược của Đảng ta, quân đội ta, trong đó có những vị tướng bình dị nhưng vô cùng sâu sắc như Đại tướng Nguyễn Quyết.

Từ sự thành công của phong trào thi đua: “Vươn ra Biển Đông - làm giàu, đánh thắng” gắn với tên tuổi Đại tướng Nguyễn Quyết đã cho thấy trong công cuộc cách mạng, nhất là ở những giai đoạn gian khổ, khó khăn, rất cần có những bộ óc dám suy nghĩ, dám thực hành, dám làm những điều chưa ai làm, dám khơi thông những tắc nghẽn để mở đường cho những dòng chủ lưu mạnh mẽ trong sự phát triển và trưởng thành bền vững của Quân đội ta, đất nước ta.

Chúng ta luôn rất tự hào với vị tướng gắn với phong trào thi đua: “Vươn ra Biển Đông - làm giàu, đánh thắng”.

Kính thưa quý vị! Chương trình Podcast - Chính Luận 35 của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe. Rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Bài 1: Đại tướng Nguyễn Quyết- Vị tướng tài năng, đức độ, nhất mực trung thành của Đảng Cộng Sản Việt Nam

Bài 1: Đại tướng Nguyễn Quyết- Vị tướng tài năng, đức độ, nhất mực trung thành của Đảng Cộng Sản Việt Nam

“Đại tướng Nguyễn Quyết - Vị tướng tài năng, đức độ, nhất mực trung thành của Đảng ta, Quân đội ta - Bài 1: Từ một thiếu niên nông thôn vùng đất Kim Động (Hưng Yên) đến Bí thư Thành ủy Hà Nội trong Cách mạng Tháng Tám”, kính thưa quý vị, trên đây là bài viết của Nhà văn PHÙNG VĂN KHAI, được đăng tải trên báo Quân đội nhân dân điện tử tại trang web qdnd.vn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Đại tướng Nguyễn Quyết là vị tướng luôn được tổ chức phân công đảm đương những vị trí công tác chiến lược ở những giai đoạn bước ngoặt của cách mạng.

Năm 1945, khi mới 23 tuổi, ông đã đảm đương cương vị Bí thư Thành ủy Hà Nội, cùng tập thể lãnh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Tiếp đó, năm 1947, ông được phân công Nam tiến, đảm đương các chức vụ quan trọng trong Quân khu ủy Quân khu 5, Chính ủy Mặt trận Quảng Đà. Năm 1955, ông được điều về làm quyền Chính ủy rồi Chính ủy Quân khu Tả Ngạn. Từ năm 1977 đến năm 1986, ông Quyết giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy, Bí thư Quân khu ủy Quân khu 3.

Đặc biệt, trong dấu mốc Đổi mới 1986, ông được điều về đảm đương cương vị Phó chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Đại tướng Nguyễn Quyết là vị Thủ trưởng Tổng cục Chính trị có nhiều đóng góp lớn trong giai đoạn bước ngoặt từ dấu mốc Đổi mới 1986 khi thực hiện trở lại cơ chế Đảng ủy lãnh đạo, thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang.

undefined
Đại tướng Nguyễn Quyết khi tròn 100 tuổi. Ảnh: qdnd.vn.

Đồng chí Nguyễn Quyết tên khai sinh là Nguyễn Tiến Văn. Ông sinh ngày 20-8-1922 tại xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Hưng Yên cũng là mảnh đất sinh ra nhiều vị tướng lĩnh tài ba, kiên trung sớm theo Đảng, theo Bác Hồ từ những ngày đầu lập nước và trưởng thành trong các cuộc chiến tranh vệ quốc như: Trung tướng Nguyễn Bình, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Thượng tướng Phạm Thanh Ngân, Thượng tướng Lê Quang Hòa, Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên và đặc biệt là Đại tướng Nguyễn Quyết.

Ngay từ nhỏ, cậu bé Nguyễn Tiến Văn đã tỏ rõ bản tính thông minh sôi nổi tham gia các công việc nhưng cũng rất điềm đạm và chăm chỉ nên rất được cha mẹ, thầy cô và bè bạn quý mến. Cuộc sống ở các vùng quê Bắc Bộ trong đó có vùng đất xã Chính Nghĩa, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên rất khó khăn. Chính quyền thực dân Pháp và bè lũ tay sai ra sức đàn áp, bóc lột nhân dân ta đến kiệt cùng. Giới địa chủ cường hào đứng đầu là bọn lý trưởng, chánh tổng, tri huyện, tri phủ cấu kết ngoại bang không từ một thủ đoạn nào để bóc lột người nông dân, bần cùng hóa đúng như những gì trong tiểu thuyết "Tắt đèn" của nhà văn Ngô Tất Tố đã mô tả.

Trước cảnh đất nước lầm than cơ cực, chàng thiếu niên Nguyễn Quyết đã sớm có suy nghĩ phải làm việc gì đó để giúp ích cho gia đình, bà con làng xóm, cho đất nước và cũng là mở ra trang mới với cuộc đời mình. Mới ở tuổi mười lăm, Nguyễn Quyết đã rời quê hương Kim Động lên Hà Nội tìm việc làm cũng là để thấy rõ hơn xã hội nhiều mặt ở Thủ đô. Trong tâm tư của chàng thiếu niên, lúc nào cũng ám ảnh việc dân bản xứ lầm than cơ cực còn những kẻ cầm quyền luôn phè phỡn, xa hoa. Vốn có hiểu biết về chữ nghĩa và sự chín chắn, khéo léo trong lời ăn tiếng nói, Nguyễn Quyết đã xin vào được làm thư ký kiêm phát hành báo cho Báo Đuốc Tuệ của Trung tâm Phật giáo Bắc kỳ, có trụ sở ở chùa Quán Sứ. Ở vị trí này, Nguyễn Quyết vừa được làm vừa được học ngay tại tòa soạn và các nơi khác. Có dịp tiếp xúc với nhiều người ở các tầng lớp xã hội khác nhau đã cho Nguyễn Quyết một cái nhìn bao quát, rộng khắp, những sự cọ xát hết sức hữu ích.

Trong khoảng thời gian này, chàng thanh niên Nguyễn Quyết bị lôi cuốn bởi các hoạt động của cuộc vận động dân chủ do Đảng Cộng sản Đông Dương phát động. Tận mắt chứng kiến và tham gia nhiều hoạt động của phong trào, được tiếp xúc với các công nhân, người lao động thành phố, giới trí thức và các giai tầng xã hội khác nhau đã cho ông hiểu sâu sắc và nhận định rõ ràng rằng thân phận của người dân mất nước thì ở đâu cũng như nhau, nông thôn hay thành thị, nông dân hay công nhân, trí thức đều bị bọn thực dân cướp nước và bè lũ tay sai đè đầu cưỡi cổ, phải chịu bóc lột, bất bình đẳng thậm chí là bị giết oan mà không có pháp luật bảo vệ. Đây cũng là những bài học lớn cho Nguyễn Quyết trưởng thành.

Cũng trong thời gian đó, đồng chí Nguyễn Quyết đã lọt vào vòng ngắm theo dõi của bọn mật thám. Chúng lùng sục tìm cách bắt ông, khiến ông phải tạm trở về quê hương. Tại Kim Động, ông đã may mắn gặp đồng chí Nguyễn Văn Tích (còn có bí danh là Tạo) - một đảng viên cộng sản, là cán bộ liên tỉnh (gồm các tỉnh: Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Kiến An...) và được giao nhiệm vụ vận động quần chúng xây dựng phong trào phản đế ở huyện Kim Động. Nguyễn Quyết đã hoạt động rất tích cực và có nhiều thành tích. Năm 1940, khi vừa tròn 18 tuổi, đồng chí Nguyễn Quyết được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, được phân công phụ trách Bí thư Thanh niên phản đế huyện Kim Động. Đây chính là dấu mốc rất quan trọng của đồng chí Nguyễn Quyết.

Tháng 8-1943, khi mới 21 tuổi, đồng chí Nguyễn Quyết đã được Xứ ủy Bắc kỳ chỉ định tham gia Ban Cán sự Đảng Hà Nội, được phân công phụ trách xây dựng căn cứ ngoại thành và vận động công nhân đấu tranh trong nội thành. Khoảng thời gian này, ông cùng các đồng chí lãnh đạo trong Ban Cán sự Đảng Hà Nội tổ chức thành lập các chi bộ, giác ngộ số công nhân cư trú ở ngoại thành bắt mối với các nhà máy, cơ sở sản xuất trong nội thành. Nhiều cơ sở, chi bộ ở nội thành và ngoại thành Hà Nội đã được thành lập, phong trào cách mạng ở Hà Nội được nâng cao chính là cơ sở, nền tảng cho Cách mạng Tháng Tám.

Mùa hè năm 1944, sau khi tham dự một lớp học quân sự tại tỉnh Thái Nguyên để chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa, ông được chỉ định làm Bí thư Thành ủy Hà Nội thay đồng chí Lê Quang Đạo do bị lộ nên Trung ương điều đi làm nhiệm vụ khác. Ông chia sẻ: “Đó là thời kỳ một ngày bằng hai mươi năm sục sôi không khí chuẩn bị mọi mặt cho cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân. Tôi được phân công đặc trách công tác quân sự, đồng chí Phương phụ trách công vận, đồng chí Vũ Oanh phụ trách thanh vận... Chúng tôi nắm chắc các đội tự vệ vũ trang mới thành lập, tổ chức huấn luyện dưới những hình thức khác nhau. Đây sẽ là lực lượng vũ trang hậu thuẫn quan trọng cho nhân dân giành chính quyền ở Hà Nội”.

Chính từ sự chuẩn bị công phu, sáng suốt, kiên quyết của Ban lãnh đạo Thành ủy Hà Nội với sự đứng đầu của Bí thư Thành ủy Nguyễn Quyết đã tiến tới một quyết định lịch sử: Hà Nội tiến hành khởi nghĩa vào ngày 19-8-1945 đánh đổ chính quyền tay sai, thành lập chính quyền cách mạng và đã thành công rực rỡ, trọn vẹn, không đổ máu. Sau này, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh đã nhận định về dấu mốc lịch sử trên: “Trong thời cơ lịch sử có một không hai đó, đã xuất hiện những con người thông tuệ được tôi luyện trong môi trường cách mạng, những trái tim và khối óc không chỉ dựa vào lòng yêu nước nồng nàn mà còn có tư chất tuyệt vời, phán đoán sắc sảo về khả năng thắng lợi của cách mạng và sự nhạy cảm thời cuộc đặc biệt. Ban lãnh đạo của Hà Nội khi đó toàn những người trẻ tuổi, dưới 30, mà người đứng đầu là Bí thư Thành ủy Nguyễn Quyết mới ở tuổi 23 và kinh qua 6 năm tôi luyện trong đấu tranh cách mạng. Thật là tuyệt vời!”.

Đó cũng là một trong những dấu mốc quan trọng nhất trong cuộc đời Bí thư Thành ủy Hà Nội Nguyễn Quyết.

Trong mỗi lần các nhà văn, nhà báo chúng tôi tiếp xúc với Đại tướng Nguyễn Quyết, ông đều tỏ ra rất phấn chấn khi kể về quãng thời gian trai trẻ của mình, nhất là khi được tổ chức tin tưởng giao chức vụ Bí thư Thành ủy Hà Nội vào thời điểm then chốt nhất của Cách mạng Tháng Tám. Chính từ sự tin tưởng tuyệt đối của cấp trên, của Đảng, đã cho ông nền tảng vững chắc để sau này đảm đương các cương vị, trọng trách trong Quân đội. Đây cũng chính là một trong những vẻ đẹp, chiều sâu thành tựu của Đảng ta trong việc bồi dưỡng, rèn luyện và sử dụng những người con ưu tú trong công cuộc cách mạng.

Kính thưa quý vị! Chương trình Podcast - Thời sự của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe. Rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu: Ký ức khó quên về những trận chiến

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu: Ký ức khó quên về những trận chiến "rừng sâu là nhà, bom đạn là bạn"

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu: Ký ức khó quên về những trận chiến “rừng sâu là nhà, bom đạn là bạn”, kính thưa quý vị, trên đây là nhan đề bài viết của tác giả Thanh Thảo nhân dịp kỉ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024) được đăng tải trên báo Công Thương điện tử tại trang web congthuong.vn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, người lính già nay đã qua tuổi tám mươi, nhưng mỗi khi nhắc đến chiến tranh, đôi mắt ông vẫn ánh lên những tia lửa, chất chứa ký ức của những tháng ngày máu lửa mà ông cùng đồng đội đã đi qua.

Trong những câu chuyện của ông kể cho chúng tôi - nhóm phóng viên Báo Công Thương, những kí ức dài không chỉ là chiến thắng, mà còn là nỗi đau, nước mắt và những bài học về lòng yêu nước, sự hy sinh cho độc lập dân tộc. Cuộc đời binh nghiệp của ông gắn liền với những trận đánh lớn, mà mỗi trận chiến là một dấu mốc không thể phai mờ trong lịch sử đất nước.

Trận Khe Sanh 1968: “Sống, chết đều phải đi tới cùng”

Ngồi bên chiếc bàn nhỏ trong căn nhà yên tĩnh, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu kể lại trận Khe Sanh bằng giọng trầm, đứt quãng, như đang nhìn lại từng gương mặt đồng đội đã ngã xuống.

Ngày ấy, chúng tôi nhận lệnh đánh vào Khe Sanh, nơi quân địch đã xây dựng một phòng tuyến tưởng như bất khả xâm phạm. Mỗi ngày, hàng trăm tấn bom đạn trút xuống, mặt đất rung chuyển như muốn nuốt chửng cả đội quân. Có lần, chúng tôi nằm trong hầm, từng đồng đội bên cạnh lần lượt hy sinh, nhưng không ai rời vị trí. Trong ánh mắt họ, tôi nhìn thấy một lời nhắn nhủ: Anh hãy đi tiếp, dù tôi có phải dừng lại ở đây. Và chúng tôi đi tiếp, sống, chết đều phải đi tới cùng".

Trận Khe Sanh không chỉ là chiến thắng quân sự, mà còn là chiến thắng của tinh thần và ý chí. Với ông, đó là một bài học sâu sắc về lòng kiên cường, rằng chiến tranh không bao giờ chỉ là đối đầu vũ khí, mà là cuộc chiến của trái tim và niềm tin.

Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào 1971: “Rừng sâu là nhà, bom đạn là bạn”

Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào là một trong những thử thách lớn nhất đối với Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu. Trong câu chuyện của ông, chiến dịch ấy như một cơn bão mà bất cứ ai bước vào đều phải đối mặt với cái chết.

Chúng tôi tiến vào rừng sâu, nơi chưa từng có dấu chân người. Rừng già bao phủ, nhưng bên dưới là hàng ngàn bãi mìn, pháo sáng và máy bay địch quần thảo suốt ngày đêm. Đó là nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau một hơi thở. Có lần, tôi cùng đồng đội bò qua một bãi mìn dài gần hai cây số, mỗi bước chân đều nghe thấy tiếng tim mình đập. Chỉ một chút sơ sẩy, cả đại đội có thể biến thành tro bụi”.

Đường 9 - Nam Lào là một chiến dịch mà quân đội ta không chỉ chiến đấu với địch, mà còn phải chiến thắng cả thiên nhiên khắc nghiệt và nỗi sợ hãi trong chính mình. Ông xúc động kể với nhóm phóng viên Báo CôngThương: “Chúng tôi không biết mình có sống sót hay không, nhưng chỉ có một niềm tin duy nhất: Nếu không đi tiếp, sẽ không còn ai giữ được con đường Trường Sơn”.

Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975: “Lá cờ tung bay trong nước mắt”

Ngày 30/4/1975, cả dân tộc vỡ òa trong niềm vui chiến thắng, nhưng với Nguyễn Huy Hiệu, đó là ngày ông khóc nhiều nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình.

Trước giờ tiến vào Sài Gòn, chúng tôi biết rằng đây là trận chiến cuối cùng, là đích đến của cả một hành trình đầy máu và nước mắt. Nhưng đó cũng là trận đánh mà tôi sợ nhất, không phải vì đạn bom, mà vì sợ rằng sẽ có thêm nhiều đồng đội hy sinh ngay trước thềm hòa bình. Và họ đã hy sinh. Những người lính cuối cùng ngã xuống trên con đường dẫn đến Dinh Độc Lập, họ không kịp thấy lá cờ tung bay. Khi chúng tôi dựng lá cờ lên nóc Dinh, nước mắt tôi đã chảy. Tôi khóc cho đồng đội, cho những người mẹ, người vợ sẽ mãi chờ đợi những người không bao giờ trở về”.

Chiến dịch Hồ Chí Minh khép lại cuộc chiến kéo dài hàng thập kỷ, nhưng với Thượng tướng, đó không phải là dấu chấm hết. Ông nói: “Khi nhìn lá cờ, tôi chỉ ước rằng không bao giờ phải cầm súng nữa. Nhưng tôi biết, để giữ được hòa bình, chúng ta sẽ còn phải chiến đấu, chỉ là trên một mặt trận khác”.

Chiến tranh biên giới phía Bắc 1979: “Đứng ở đâu, đất nước ở đó”

Khi đất nước vừa thống nhất, tiếng súng đã lại vang lên ở biên giới phía Bắc. Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu khi ấy không ngần ngại bước vào cuộc chiến mới, bảo vệ từng tấc đất quê hương.

Chúng tôi đứng giữa mùa đông lạnh giá ở Lạng Sơn, trước mặt là hàng ngàn quân địch tràn xuống, sau lưng là làng mạc, là những người dân tay không tấc sắt. Đứng ở đâu, đất nước ở đó. Chúng tôi không cho phép mình lùi bước”.

Những trận chiến ác liệt ở Lạng Sơn, Cao Bằng đã ghi dấu những hy sinh to lớn. Ông kể: “Có người lính trẻ hỏi tôi: “Thủ trưởng, nếu tôi hy sinh, liệu đất nước có nhớ đến tôi không?". Tôi chỉ nhìn anh ấy và nói: “Đất nước không bao giờ quên ai đã giữ lấy nó”. Và hôm sau, anh ấy không còn nữa.

Chiến tranh biên giới phía Bắc kết thúc, nhưng với ông, đó là lời nhắc nhở rằng hòa bình không bao giờ là điều dễ dàng.

Người kể chuyện chiến tranh và khát vọng hòa bình

Hơn nửa đời người cầm súng, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu hiểu rõ giá trị của hòa bình hơn bất kỳ ai. Ở tuổi xế chiều, ông dành thời gian viết sách, ghi chép lại những câu chuyện chiến trường không chỉ để tưởng nhớ, mà còn để gửi gắm lời nhắn nhủ đến thế hệ mai sau.

undefined

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu. Ảnh: Quốc Chuyển

Hòa bình không tự nhiên mà có. Nó được đổi lấy bằng máu, nước mắt và cả tuổi trẻ của những người đã đi qua chiến tranh. Hãy sống sao cho xứng đáng với những gì họ đã hy sinh”.

Trong giọng kể của ông, không có sự tự hào cá nhân, không có ánh hào quang của chiến thắng, mà chỉ là nỗi day dứt, lòng trân trọng dành cho những người đã nằm lại trên những cánh rừng, con đường, dòng sông của Tổ quốc. Ông bảo: “Tôi may mắn hơn nhiều đồng đội vì được sống đến hôm nay, nhưng tôi luôn tự hỏi liệu mình đã làm đủ để trả ơn họ chưa”.

Vào ngày 22/12 – Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu thường dành thời gian lặng lẽ đặt hoa tưởng nhớ những đồng đội đã hy sinh. Với ông, đây không chỉ là ngày kỷ niệm, mà là dịp để tri ân, để nhắc nhở mỗi người Việt Nam rằng quân đội nhân dân không chỉ là lực lượng chiến đấu, mà là đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.

Ngày 22/12, tôi không chỉ nghĩ về quá khứ mà còn nghĩ về tương lai. Lịch sử dân tộc đã chứng minh rằng một khi nhân dân đoàn kết, quân đội hết lòng vì dân, chúng ta có thể vượt qua mọi kẻ thù. Nhưng điều quan trọng hơn cả là phải giữ được hòa bình, để không một người mẹ nào còn phải mất con, không một người lính nào phải gục xuống giữa tuổi đôi mươi”.

Nhìn về cuộc đời binh nghiệp của mình, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu không coi mình là anh hùng. Với ông, mỗi vết sẹo trên cơ thể là một lời nhắc nhở, mỗi trận đánh là một câu chuyện khắc sâu trong tim. Và hòa bình, dù quý giá đến đâu, cũng luôn mong manh, cần được bảo vệ bằng cả trái tim và trí tuệ của mỗi thế hệ.

Chiến tranh là những ngày đen tối nhất của lịch sử, nhưng nó cũng làm sáng lên ánh sáng của lòng yêu nước. Tôi không kể chuyện để khơi dậy hận thù, mà để thế hệ trẻ hiểu rằng hòa bình là thứ không thể lãng quên, không thể xem thường. Đừng để những hy sinh ấy trở thành vô nghĩa”.

Câu chuyện đã tạm khép lại, nhưng ánh mắt tướng Hiệu vẫn trầm tư. Ông không nói thêm, chỉ nhìn ra ngoài cánh cửa, nơi bầu trời bình yên của mặt nước Hồ Tây êm ả, bình lặng trên phố Trấn Vũ hôm nay trải dài. Trong khoảnh khắc đó, ông lại đang nghĩ đến những đồng đội chưa từng trở về!. Và có lẽ, nếu có điều ước cuối cùng, ông sẽ ước rằng thế hệ mai sau sẽ không bao giờ phải nghe đến tiếng súng, chỉ còn lại tiếng cười của tự do và hạnh phúc trong hòa bình, độc lập

Hòa bình, độc lập vốn dĩ là món quà đắt giá và bi tráng nhất của lịch sử, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, cùng hàng triệu người lính khác, đã trao nó lại cho chúng ta bằng cả cuộc đời mình. Trong dịp kỷ niệm 80 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12 này, khi chúng ta cúi đầu tưởng nhớ những người lính đã ngã xuống, hãy tự hỏi bản thân: Liệu chúng ta đã sống xứng đáng với sự hy sinh ấy chưa? .

Kính thưa quý vị! Chương trình Podcast - Thời sự của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe. Rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Vị tướng huyền thoại, “người anh cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Vị tướng huyền thoại, “người anh cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam

“Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Vị tướng huyền thoại, “người anh cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam”, kính thưa quý vị trên đây là nhan đề bài viết của Đại úy, Thạc sỹ Nguyễn Ngọc Toán - Viện Lịch sử quân sự, được đăng tải trên báo Nhân dân điện tử tại trang web nhandan.vn. Trong tháng 12 này là dịp đặc biệt có ý nghĩa kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024), thêm một lần nữa chúng ta cũng nhắc nhớ và hồi ức lại những câu chuyện về vị tướng huyền thoại của dân tộc Việt Nam - Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tấm lòng trân trọng và biết ơn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp - Người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, được nhân dân yêu mến, kính trọng, bạn bè quốc tế ngưỡng mộ và là niềm tự hào của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Vị tướng huyền thoại của Việt Nam và thế giới; dù không trải qua trường lớp quân sự nào, nhưng dưới sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh; đồng chí Võ Nguyên Giáp đã cùng Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ huy xây dựng Quân đội từ “con số không” nhanh chóng phát triển lực lượng, trình độ tổ chức, tác chiến, nâng cao sức mạnh chiến đấu, đánh bại nhiều viên tướng nổi tiếng của các quân đội đế quốc thực dân hùng mạnh trên thế giới, làm thay đổi dòng chảy lịch sử dân tộc và nhân loại.

Tên tuổi và sự nghiệp của ông mãi mãi được khắc ghi trong lịch sử dân tộc, vị tướng lừng danh trong lịch sử thế giới, góp phần làm phong phú nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần vào việc hình thành và phát triển học thuyết quân sự - đường lối chiến tranh nhân dân độc đáo Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Ông cũng là Tổng Tư lệnh đầu tiên và duy nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam, là Đại tướng đầu tiên, cũng là đại tướng đánh bại nhiều đại tướng nhất.

Tiểu sử Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911, tại xã Lộc Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình, trong một gia đình nhà nho giàu lòng yêu nước. Ông đã dấn thân vào con đường cách mạng từ khi tuổi đời còn rất trẻ dưới sự dìu dắt của các bậc đàn anh và những người thầy ở Trường Quốc học Huế, tham gia các tổ chức yêu nước và cách mạng: Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Tân Việt Cách mạng Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn, trở thành Ủy viên Trung ương dự bị, phụ trách tuyên huấn và giao thông liên lạc của Tổng bộ Tân Việt Cách mạng Đảng. Võ Nguyên Giáp đã góp phần to lớn thúc đẩy tổ chức Tân Việt thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn - là một trong ba tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông đã bị thực dân Pháp kết án 2 năm tù vì tham gia ủng hộ phong trào Xôviết Nghệ - Tĩnh.

Tháng 4/1940 đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Võ Nguyên Giáp, ông và đồng chí Phạm Văn Đồng được đồng chí Hoàng Văn Thụ - Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ trực tiếp giao nhiệm vụ sang miền Nam Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Đầu tháng 6/1940, tại Thúy Hồ - Côn Minh - Vân Nam (Trung Quốc), hai ông được gặp đồng chí Vương (tức lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc). Từ đây, Võ Nguyên Giáp được gần gũi, trở thành người học trò xuất sắc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Nhận thấy ở Võ Nguyên Giáp có tài năng thiên bẩm về quân sự, cho nên sau thời gian thử thách, rèn luyện, tháng 12/1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã giao cho Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - Đội quân chủ lực đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Kể từ đây, Võ Nguyên Giáp giữ vai trò người chỉ huy cao nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, được sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Võ Nguyên Giáp, đội quân từ 34 chiến sĩ trở thành một đội quân cách mạng ngày càng lớn mạnh, từng bước đánh bại những quân đội nhà nghề, sừng sỏ, được trang bị những vũ khí chiến tranh tối tân, hiện đại thời bấy giờ, giành và giữ nền độc lập, tự do cho dân tộc, vẹn toàn lãnh thổ cho Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trên cương vị Bí thư Trung ương Quân ủy, Tổng Chính ủy, Bí thư Tổng Quân ủy, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp quán triệt sâu sắc đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam từng bước lớn mạnh, trưởng thành, phát huy vai trò của quân đội cách mạng, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc; phát huy thế trận chiến tranh nhân dân rộng khắp, từng bước đánh bại các kế hoạch quân sự của địch. Đại tướng đã trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng, đánh dấu sự phát triển của cuộc kháng chiến như Biên Giới, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào,... Đặc biệt trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, với tư duy quân sự sắc bén, với nhãn quan chiến lược sâu sắc, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, để làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đưa Đại tướng vào hàng danh tướng của thế giới.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trên cương vị Phó Thủ tướng, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội, Đại tướng chỉ đạo quân, dân trên cả hai miền Nam, Bắc lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh những cố gắng quân sự cao nhất của Mỹ, ngụy, lập nên những chiến công vang dội, như thắng lợi trong cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và mùa khô 1966 - 1967, Chiến dịch đường 9 - Nam Lào năm 1971, cuộc tiến công chiến lược năm 1972, hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, làm nên “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội vào tháng 12/1972. Đặc biệt đại thắng mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh đã lập nên mốc son chói lọi, kết thúc 30 năm chiến tranh cách mạng, giành lại trọn vẹn độc lập cho dân tộc, thống nhất cho non sông.

Đất nước hòa bình, thống nhất, Đại tướng đã cùng tập thể lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội lãnh đạo toàn dân, toàn quân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Năm 1991, Đại tướng nghỉ hưu ở tuổi 80.

Với những công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, uy tín lớn trong và ngoài nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều Huân, Huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế.

Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam suy tôn ông là người “Anh Cả” của quân đội. Bộ đội do ông lãnh đạo, chỉ huy được nhân dân yêu mến gọi là “Bộ đội Cụ Hồ”, đó là niềm tự hào, là sự kiêu hãnh mà không phải quân đội nào trên thế giới cũng có được.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp với những chiến công hiển hách:

Đổi mục tiêu đánh Cao Bằng sang Đông Khê trong chiến dịch biên giới năm 1950.

Trong Chiến dịch Biên Giới 1950, trên cương vị là Bí thư Đảng ủy Mặt trận Biên Giới, Chỉ huy trưởng kiêm Chính ủy Chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có những đóng góp quan trọng, góp phần làm nên thắng lợi của chiến dịch, tạo bước ngoặt căn bản trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta.

Theo kế hoạch tác chiến ban đầu vạch ra, quân ta sẽ bắt đầu chiến dịch bằng tập trung ưu thế binh lực, tiến công tiêu diệt địch trong thị xã Cao Bằng. Sau khi giải quyết xong Cao Bằng, sẽ chuyển xuống tiêu diệt địch ở Đông Khê, rồi tùy tình hình để định hướng phát triển tiếp theo của chiến dịch.

Nhưng trước khi lên đường đi chiến dịch, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh để báo cáo tình hình và được Người căn dặn: Chiến dịch này quan trọng, chỉ được thắng, không được thua. Lời căn dặn đó, khiến đồng chí Tổng Tư lệnh trăn trở, suy nghĩ nhiều về tầm quan trọng của chiến dịch. Vậy, mục tiêu đặt ra cho chiến dịch có vượt quá sức của bộ đội hay không? Lấy thị xã Cao Bằng là điểm đột phá mở đầu chiến dịch có đúng không? Liệu ta có thể huy động đủ lương thực cho lực lượng lớn bộ đội, dân công trong chiến dịch dài ngày không?

Từ những trăn trở đó, đầu tháng 8 năm 1950, Bộ Chỉ huy Chiến dịch tổ chức trinh sát thực địa Cao Bằng. Sau khi phân tích, đánh giá tình hình, để thực hiện quyết tâm bảo đảm đánh chắc thắng trận đầu, trận đánh then chốt mở màn cho chiến dịch tiến công lớn đầu tiên của Quân đội ta. Tại cuộc họp Đảng ủy Mặt trận ngày 16 tháng 8 năm 1950, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bí thư Đảng ủy, Chỉ huy trưởng Chiến dịch kết luận: Đánh Cao Bằng trước, “ta chưa có thể nói chắc chắn bảo đảm thắng lợi”. Do vậy, đồng chí đưa ra phương án tác chiến mới, đó là đánh Đông Khê trước để mở màn chiến dịch.

Bởi, nếu đánh Cao Bằng trước, ta sẽ gặp một số khó khăn như vấn đề tổ chức vượt sông, vấn đề đối phó với quân nhảy dù tăng viện lúc chiến đấu... Nếu đánh Cao Bằng không thắng lợi sẽ ảnh hưởng tới niềm tin của bộ đội. Ngược lại, tiến công Đông Khê phù hợp với nguyên tắc bảo đảm chắc thắng trận đầu trong tác chiến chiến dịch, phù hợp với cách đánh của ta (đánh điểm, diệt viện, lấy tiêu diệt địch ngoài công sự là chính), thuận tiện cho ta triển khai binh, hoả lực, phù hợp với khả năng chiến đấu của bộ đội, có khả năng bảo đảm chắc thắng và có cơ hội đánh viện binh địch.

Hơn nữa, lực lượng địch ở Đông Khê yếu hơn so với các mục tiêu khác - là nơi địch tương đối sơ hở nhưng lại là nơi hiểm yếu, nếu Đông Khê bị đột phá, toàn bộ thế trận của địch sẽ bị chia cắt và uy hiếp. Do vị trí quân sự quan trọng của Đông Khê, là mắt xích quan trọng nối với thị xã Cao Bằng với thị trấn Thất Khê. Nếu mất Đông Khê, tuyến phòng thủ đường số 4 sẽ bị chia cắt, thị xã Cao Bằng trở nên cô lập, buộc địch phải đưa quân đến ứng cứu Đông Khê, hoặc rút quân từ Cao Bằng về hỗ trợ.

Phương án này, ngay sau đó, được báo cáo lên Chủ tịch Hồ Chí Minh và được nhất trí thông qua.

Diễn biến của chiến dịch đúng như Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp dự đoán. Sau thời gian chuẩn bị, ngày 16 tháng 9 năm 1950, quân ta nổ súng tiến công Đông Khê, đến sáng 18 tháng 9, quân địch rút chạy, ta làm chủ trận địa. Địch buộc phải điều lực lượng ứng cứu: Binh đoàn Lepager nhận lệnh tiến theo đường số 4 lên đón binh đoàn của Charton từ Cao Bằng rút về cùng hợp điểm tại Đông Khê. Sau đó, ta đã khéo léo “dụ” được hai binh đoàn thiện chiến nhất của quân Pháp rời bỏ những nơi đồn trú kiên cố, cô lập chúng không cho hợp điểm và buộc chúng cuối cùng phải sa vào thế trận “thiên la, địa võng” do ta bày sẵn ở Cốc Xá - Ðiểm cao 477 để tiêu diệt. Thắng lợi đó thể hiện tài năng thao lược thiên bẩm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Thay đổi phương châm tác chiến từ “Đánh nhanh, giải quyết nhanh sang “Đánh chắc, tiến chắc” trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954.

Sau khi Điện Biên Phủ được chọn làm điểm quyết chiến chiến lược giữa ta và thực dân Pháp, ngày 14 tháng 01 năm 1954, tại Sở Chỉ huy chiến dịch ở Thẩm Púa, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy chiến dịch mở Hội nghị Cán bộ phổ biến Kế hoạch tác chiến chiến dịch theo phương châm “đánh nhanh, giải quyết nhanh” đã xác định và giao nhiệm vụ cho các đơn vị tiến hành công tác chuẩn bị đánh theo Quyết nghị của hội nghị. Nhưng với nhãn quan quân sự nhạy cảm, sắc bén, Đại tướng nhanh chóng phát hiện những điểm yếu của phương án “đánh nhanh, giải quyết nhanh”.

Bởi, “tình hình địch đã thay đổi nhiều. Chúng đã củng cố công sự phòng ngự, không còn là trận địa dã chiến. Bộ đội sẽ phải tiến hành một trận công kiên vào một tập đoàn cứ điểm phòng ngự vững chắc chưa từng có”, quan trọng hơn, những khó khăn đó chưa tìm được cách khắc phục. Mặc dù, “pháo binh đã vào vị trí, các đại đoàn đều có mặt ở tuyến xuất phát xung phong”, nhưng với tinh thần kỷ luật cùng thái độ trách nhiệm trước Đảng, quân và dân, Đại tướng quyết định “Phải cho các đơn vị rút khỏi trận địa để nghiên cứu một cách đánh khác dù bộ đội có thắc mắc. Phải chuyển từ phương án “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Thời gian chuẩn bị sẽ kéo dài.

undefined

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các đồng chí trong Bộ Chỉ huy chiến dịch họp bàn kế hoạch tác chiến Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

Từ kinh nghiệm thực tiễn chiến trường những năm kháng chiến chống thực dân Pháp và thiên bẩm quân sự, Đại tướng đã trình bày quan điểm về phương án tác chiến tiêu diệt Tập đoàn cứ điểm, phân tích những thay đổi quan trọng về phía địch từ sau Hội nghị Thẩm Púa, cùng những khó khăn chưa thể khắc phục của ta. Từ đó, Đại tướng khẳng định: Phương án “đánh nhanh, thắng nhanh” không thể đảm bảo nguyên tắc cao nhất là “đánh chắc thắng”. Đại tướng quả quyết ta vẫn giữ vững quyết tâm tiêu diệt địch ở Điện Biên Phủ, nhưng phải thay đối cách đánh và phương châm tác chiến. Sau thời gian thảo luận nghiêm túc, thay mặt Đảng ủy, Bộ Chỉ huy Mặt trận, Đại tướng kết luận: “Để bảo đảm nguyên tắc cao nhất là “đánh chắc thắng”, cần chuyển phương châm tiêu diệt địch từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Nay quyết định hoãn cuộc tiến công. Ra lệnh cho bộ đội trên toàn tuyến lui về địa điểm tập kết, và kéo pháo ra. Công tác chính trị bảo đảm triệt để chấp hành mệnh lệnh lui quân như mệnh lệnh chiến đấu. Hậu cần chuyển sang chuẩn bị theo phương châm mới”.

Quyết định hoãn cuộc tiến công, thay đổi phương châm tác chiến là một quyết định quyết đoán, dũng cảm, thể hiện tầm cao trí tuệ, bản lĩnh chính trị của Chỉ huy trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy Mặt trận trước Đảng, nhân dân và Quân đội. Quyết định đó kịp thời tránh được nguy cơ tổn thất cho quân và dân ta mà như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Chỉ được thắng không được bại, vì bại thì hết vốn”.

Thực tiễn diễn biến Chiến dịch Điện Biên Phủ đã chứng minh quyết định của Đại tướng vào thời điểm lịch sử đó là hoàn toàn đúng đắn. Sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hồi ức có kể lại đó là “một quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình

Ra mệnh lệnh “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa…’ trong trận đại thắng mùa xuân 1975

Với “hai đòn chiến lược gối đầu nhau” là Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng giành thắng lợi, ta đã loại khỏi vòng chiến một nửa lực lượng địch, giải phóng một vùng rộng lớn suốt từ Quảng Trị đến Khánh Hòa, tạo đột biến về cục diện
chiến tranh, khiến địch hoang mang, hoảng loạn, tìm cách co cụm để giữ Sài Gòn...

Nắm bắt thời cơ chiến lược, ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị họp mở rộng bàn về đòn chiến lược thứ ba tiến công Sài Gòn, đòn quyết chiến chiến lược cuối cùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đề nghị khẩn trương xây dựng kế hoạch tác chiến giải phóng Sài Gòn - Gia Định theo hướng bao vây chiến lược ở phía đông và phía tây Sài Gòn, sử dụng nắm đấm chủ lực, bất ngờ thọc sâu tiêu diệt địch.

Ngày 1/4/1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trên cương vị Bí thư Quân ủy Trung ương điện cho Trung ương Cục miền Nam, xác định thời gian tiến công Sài Gòn, trong đó nêu rõ: “Hiện nay ta đã có đầy đủ lực lượng và khả năng để giành thắng lợi hoàn toàn trong một thời gian ngắn hơn dự kiến rất nhiều. Vấn đề quyết định là phải kịp thời nắm lấy thời cơ... Thời gian hiện nay phải tính từng ngày. Phải thần tốc, thần tốc, toàn thắng, nhất định toàn thắng”.

Được sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Chính trị, quán triệt tinh thần tiến quân “thần tốc”, trên hướng Đường số 1, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Bộ Chính trị ký quyết định thành lập cánh quân Duyên hải (còn gọi là cánh quân phía Đông, 5/4/1975) và trực tiếp giao nhiệm vụ phải chọc thủng các phòng tuyến của địch từ Nha Trang trở vào Sài Gòn. Tổng Tư lệnh đặt ra yêu cầu đối với cánh quân phía Đông là phải tìm mọi phương án nâng cao tốc độ hành quân để kịp thời gian tham gia chiến dịch giải phóng Sài Gòn; quá trình hành quân phải là quá trình bổ sung, sáp nhập và hiệp đồng chiến đấu liên tục, “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”.

Đôn đốc, thúc giục các binh đoàn, lực lượng trên toàn mặt trận, ngày 7/4/1975, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã tự tay thảo bức Điện số 157/ĐK, ra mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”

Cùng với việc chỉ đạo các cánh quân “thần tốc” giải phóng lãnh thổ trên đất liền, ngày 2/4, Đại tướng trực tiếp chỉ thị cho đồng chí Lê Trọng Tấn: Ngoài nhiệm vụ truyền đạt mệnh lệnh cho Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Hải quân, tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa. Ngày 4/4, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ký bức bức “mật điện” số 990B/TK “chỉ cán bộ có trách nhiệm biết”, sau đó tốc chuyển đến đồng chí Võ Chí Công - Chính ủy Quân khu 5 và đồng chí Chu Huy Mân - Tư Lệnh Quân khu 5: giao nhiệm vụ cho Khu ủy, Quân khu ủy và Bộ tư lệnh Khu V, Bộ Tư lệnh Hải quân khẩn trương nghiên cứu kế hoạch tác chiến và tiến hành mọi công tác chuẩn bị để khi có thời cơ kịp thời giải phóng Quần đảo Trường Sa, coi đó là một nhiệm vụ rất quan trọng.

Mệnh lệnh được thi hành ngay tức khắc. Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Hải quân triển khai kế hoạch tác chiến. Sau khi Quân khu 5 báo cáo kế hoạch đánh chiếm các đảo, ngày 13/4, Đại tướng Võ Nguyên Giáp điện cho đồng chí Chu Huy Mân nêu ý kiến về thời cơ đánh chiếm các đảo. Ngày hôm sau, nhận được tin quân địch chuẩn bị rút khỏi Trường Sa, Đại tướng chỉ thị cho Quân khu 5: Thời cơ đánh chiếm các đảo lúc này rất thuận lợi. Các anh ra lệnh đánh chiếm ngay. Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra chặt chẽ và thường xuyên báo cáo về Bộ.

Ngày 28/4, quân ta hoàn thành giải phóng các đảo ở quần đảo Trường Sa. Đến ngày 30/4 lá cờ giải phóng tung bay trước Dinh Độc lập báo hiệu Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã toàn thắng, một thời khắc thiêng liêng của triệu triệu người Việt Nam khi đất nước được giải phóng, non sông thu về một mối.

Như vậy, suốt ba mươi năm chỉ đạo, điều hành cuộc chiến tranh cách mạng (1945-1975), trên cương vị Tổng Tư lệnh quân đội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp góp phần quan trọng vào những thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta. Hình ảnh và những cống hiến đặc biệt xuất sắc của Đại tướng đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc luôn sống mãi với non sông, đất nước, trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, đúng như khẳng định của đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng: “Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đánh giá cao công lao của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta suy tôn đồng chí là Anh Cả của Quân đội nhân dân Việt Nam. Con người, nhân cách và những cống hiến to lớn của đồng chí in đậm trong lòng nhân dân, là vị tướng của nhân dân, mãi mãi lưu danh trong lịch sử dân tộc.

Những đánh giá về Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Các vị tướng ấy (tức tướng Pháp ở Đông Dương) cầm quân đánh trận ở Việt Nam đều thua ông Giáp thì ông Giáp phải trên họ một bậc”

Tổng bí thư Lê Khả Phiêu: “Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị tướng văn, võ song toàn. Vừa võ vừa văn, cả hai lĩnh vực ấy quyện vào, hỗ trợ cho nhau, đều hay, đều giỏi: quân sự - chính trị - kinh tế - văn hóa; văn hóa – chính trị - kinh tế - quân sự”

Tướng De Castrier: “Quân đội viễn chinh Pháp và các tướng tá Pháp chúng tôi là một đội quân nhà nghề, thiện chiến và trang bị hiện đại. Sự kiện tướng Giáp thắng chúng tôi ở Điện Biên Phủ làm chúng tôi ngạc nhiên về tài năng của ông [...] tôi thừa nhận tướng Giáp rất sành sỏi binh nghiệp và khôn ngoan hơn tôi đã đành, mà còn hơn cả tướng Cônhi và Đại tướng Navarre. Tôi hân hạnh làm đối thủ của tướng Giáp, được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính phục ông.”

60 năm những người hùng châu Á, bình chọn của tạp chí Time, 2006: “Ngày nay, vẫn chỉnh tề trong bộ quân phục, tướng Giáp khiêm tốn từ chối nhận định rằng những chiến thắng quân sự đã khiến ông trở thành một người anh hùng. Ông khẳng định, chúng tôi đơn giản là bằng chứng rằng “nhân dân Việt Nam, với tinh thần yêu nước, có thể làm nên những điều phi thường”. Đúng vậy. Nhưng tướng Giáp đã chỉ cho họ con đường ấy

Bách khoa toàn thư quân sự Bộ Quốc Phòng Mỹ 1993: “Tài thao lược của tướng Giáp về chiến lược, chiến thuật và hậu cần được kết hợp nhuần nhuyễn với chính trị và ngoại giao… Sức mạnh hơn hẳn về kinh tế, tính ưu việt về công nghệ cùng với sức mạnh áp đảo về quân sự và hỏa lực khổng lồ của các quốc gia phương Tây đã phải khuất phục trước tài thao lược của một vị tướng từng một thời là thầy giáo dạy sử”

Bách Khoa toàn thư Pháp: “Là người tổ chức Quân đội nhân dân, ông Giáp đã thực hiện được một sự tổng hợp độc đáo các học thuyết mácxít, kết hợp nhuần nhuyễn với truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, vận dụng khôn khéo vào những điều kiện của một quốc gia có đất đai tương đối hẹp. Võ Nguyên Giáp đã chứng minh rằng ông có những đức tính ngoài tầm cỡ bình thường trên mọi lĩnh vực lớn của cuộc chiến tranh”

Những phát ngôn kinh điển của Đại tướng Võ Nguyên Giáp:

Cuộc gặp đầu tiên của Đại tướng với cựu Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Mcnamara tháng 11/1995: “Từ lo sợ không có trong tư duy của chúng tôi. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Chúng tôi quyết đánh Mỹ và chúng tôi luôn tin tưởng là sẽ chiến thắng.”

Cuộc gặp lần thứ 2 - cũng là lần cuối cùng của cựu Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ Mcnamara tháng 6/1997: “Vị tướng dù có công lao đến đâu cũng là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam mới là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ mình bình đẳng với những người lính của mình”

Chiến lược của tôi là chiến lược hòa bình, nhưng hòa bình trong độc lập, tự do” - Trả lời câu hỏi của cố vấn an ninh của Tổng thống Algieria

“Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó” - Đại tướng nói khi được chúc mừng nhân dịp bước sang tuổi 100.

Kính thưa quý vị, chương trình Podcast - Thời sự của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe, rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.

Bài 2: Quân đội trong bối cảnh và thách thức mới

Bài 2: Quân đội trong bối cảnh và thách thức mới

“Quân đội trong bối cảnh và thách thức mới”, kính thưa quý vị, trên đây là nhan đề bài viết 2 tiếp nối bài 1 nhân sự kiện “80 năm Quân đội Nhân dân Việt Nam - Hành trình vươn mình cùng đất nước” được đăng tải trong chuyên mục Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, trên báo Công Thương điện tử tại trang web congthuong.vn. Kính mời quý vị cùng lắng nghe.

Trong bối cảnh thế giới và khu vực đầy biến động, xây dựng quân đội vững mạnh và củng cố quốc phòng trở thành nhiệm vụ trọng yếu.

Bối cảnh đầy biến động trên thế giới và trong nước

Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế lớn song đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức. Các nước lớn vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh quyết liệt; tăng cường điều chỉnh chiến lược, lôi kéo, tập hợp lực lượng. Nhiều điểm nóng, xung đột tiếp tục tồn tại, có nguy cơ lan rộng. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia, dân tộc. Sự xuất hiện của các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hiện đại, nhiều hình thái chiến tranh mới làm thay đổi môi trường chiến lược. Các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gay gắt, tác động tiêu cực đến sự tồn tại, phát triển bền vững của các quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Ở trong nước, mặc dù đạt được nhiều thành tựu về kinh tế - xã hội, kinh tế vĩ mô bảo đảm ổn định nhưng chưa thật sự vững chắc; tiềm lực đất nước tiếp tục được tăng cường, uy tín, vị thế trên trường quốc tế được nâng cao song cũng còn nhiều khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ Đảng ta xác định vẫn còn hiện hữu; những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, tình trạng tham nhũng chưa được đẩy lùi; sự xuống cấp của một số giá trị văn hóa và đạo đức, những mâu thuẫn, bức xúc trong xã hội còn diễn biến phức tạp. Tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông còn tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội với âm mưu, thủ đoạn ngày càng công khai, trực diện và tinh vi hơn.

Phát huy nội lực và bài học lịch sử trong xây dựng quốc phòng

Tình hình đó đặt ra những khó khăn, thách thức mới đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong những năm tới; đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

undefined
Trong bối cảnh thế giới và khu vực đầy biến động, xây dựng quân đội vững mạnh và củng cố quốc phòng trở thành nhiệm vụ trọng yếu. - Ảnh: Chinhphu.vn

Phát huy những bài học kinh nghiệm quý báu trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc, trong lịch sử xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng ta tiếp tục giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân và sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân; khơi dậy và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, ý chí tự lực, tự cường, truyền thống văn hóa tốt đẹp, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân” vững chắc. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn xã hội đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng; chú trọng tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về đối tác, đối tượng của cách mạng Việt Nam, đường lối, quan điểm của Đảng, yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bồi dưỡng ý thức trách nhiệm, tinh thần cảnh giác cách mạng trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Chú trọng xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng, nâng cao tính bền vững và khả năng huy động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng trong các tình huống. Xây dựng khu vực phòng thủ các cấp vững chắc, tạo thế bố trí phòng thủ liên hoàn trên từng địa bàn và phạm vi cả nước. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hoá, xã hội và đối ngoại theo đúng quan điểm chỉ đạo: “Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”.

Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, gắn với bố trí lại lực lượng và nâng cao chất lượng thu hút, đào tạo nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao trong Quân đội. Giữ vững và phát huy truyền thống vẻ vang của Quân đội, phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” và nghệ thuật quân sự Việt Nam; thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”; sẵn sàng các phương án bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, ứng phó các mối đe dọa an ninh phi truyền thống; nâng cao năng lực phòng, chống chiến tranh không gian mạng, chiến tranh thông tin. Đồng thời, quan tâm, chăm lo thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và chính sách hậu phương quân đội.

Nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế

Tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo tinh thần Kết luận số 53 ngày 28/4/2023 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 2662-NQ/QUTW ngày 26/2/2024 của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Quán triệt và thực hiện tốt phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả” trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, kiên định chính sách quốc phòng “Bốn không” của Việt Nam trong quan hệ quốc tế (không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế). Từ đó, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, tăng cường lòng tin chiến lược, giữ vững môi trường hòa bình, hợp tác, cùng phát triển, góp phần bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

Kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân là dịp để chúng ta ôn lại lịch sử hào hùng của dân tộc, bản chất, truyền thống tốt đẹp, những chiến công oanh liệt của Quân đội và nhân dân ta. Qua đó, khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua mọi khó khăn, thử thách; ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong những năm tới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.

Kính thưa quý vị! Chương trình Podcast - Chính luận của Báo Công Thương đến đây xin được tạm dừng. Cảm ơn quý vị đã quan tâm theo dõi và lắng nghe. Rất mong quý vị sẽ luôn đồng hành cùng chương trình của chúng tôi. Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại trong những bài Podcast tiếp theo.