Sửa Luật Quản lý ngoại thương: Đáp ứng biến động nhanh của thị trường toàn cầu

Những thay đổi trong dự thảo Luật Quản lý ngoại thương được kỳ vọng góp phần gỡ các vướng mắc phát sinh, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam.

Việc sửa đổi, bổ sung đồng thời 4 luật trong lĩnh vực Công Thương gồm: Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đang thu hút sự chú ý của cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đặc biệt, những thay đổi của Luật Quản lý ngoại thương được kỳ vọng góp phần gỡ các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam.

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Minh Đức - Quản lý chính sách công, Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN đã phân tích những nội dung được cộng đồng doanh nghiệp quan tâm trong dự thảo sửa đổi luật.

Ông Nguyễn Minh Đức - Quản lý chính sách công, Hội đồng kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN.

Ông Nguyễn Minh Đức - Quản lý chính sách công, Hội đồng kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN.

Tháo "nút thắt" trong hoạt động thương mại

- Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của việc sửa đổi đồng thời Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đối với môi trường đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam?

Ông Nguyễn Minh Đức: Tôi cho rằng, việc sửa đổi lần này là hết sức cần thiết. Thực tế, dự thảo tập trung vào hai vấn đề lớn.

Thứ nhất là câu chuyện phân cấp, phân quyền. Trong năm 2025, chúng ta đã thấy khá rõ xu hướng nhiều thủ tục hành chính và thẩm quyền của cơ quan trung ương được chuyển giao mạnh hơn cho chính quyền địa phương. Đây là điểm mà cộng đồng doanh nghiệp đánh giá tích cực.

Khi các quyết định được xử lý gần hơn với thực tiễn địa phương, quá trình giải quyết công việc cho doanh nghiệp cũng trở nên thuận lợi hơn. Lần sửa đổi này đã đưa tinh thần đó vào luật, thể chế hóa những thay đổi đã được thực hiện trong thời gian qua.

Thứ hai, việc tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc tồn tại trong hệ thống pháp luật. Thực tế có những vấn đề đã tồn tại trong luật từ rất lâu, đặc biệt là trong Luật Thương mại, có những quy định đã tồn tại hơn 10 năm. Doanh nghiệp nhiều lần phản ánh về những điểm chưa thống nhất giữa các văn bản pháp luật.

Ví dụ khá điển hình là sự chồng chéo giữa quy định về hợp đồng trong Luật Thương mại và quy định về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự. Trong quá trình xử lý tranh chấp, nhiều luật sư và trọng tài viên cũng đã chỉ ra rằng sự khác biệt trong cách tiếp cận giữa hai hệ thống quy định này khiến một số vụ việc kéo dài rất lâu. Có những tranh chấp thương mại phải mất nhiều năm vẫn chưa thể xử lý dứt điểm.

Chính vì vậy, cộng đồng doanh nghiệp rất hoan nghênh việc những vấn đề tồn tại lâu năm như vậy đã được Bộ Công Thương đưa vào dự thảo sửa đổi 4 luật lần này. Đây là bước đi cho thấy cơ quan soạn thảo đã lắng nghe các phản ánh từ thực tiễn.

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đánh giá cao cách Bộ Công Thương tổ chức lấy ý kiến doanh nghiệp. Việc tham vấn được thực hiện khá rộng rãi, kể cả từ giai đoạn xây dựng hồ sơ ban đầu. Điều này giúp các cơ quan soạn thảo có thêm thông tin từ thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh, qua đó hoàn thiện dự thảo luật sát với nhu cầu của thị trường. Nếu cách làm này tiếp tục được duy trì, đây sẽ là một ví dụ tốt cho quá trình xây dựng pháp luật trong thời gian tới.

Hội nghị lấy ý kiến về sửa đổi 4 luật lĩnh vực Công Thương do Bộ Công Thương tổ chức sáng 6/3/2026 - Ảnh: Đồng Cường

Hội nghị lấy ý kiến về sửa đổi 4 luật lĩnh vực Công Thương do Bộ Công Thương tổ chức sáng 6/3/2026 - Ảnh: Đồng Cường

- Một trong những mục tiêu của việc sửa đổi các luật lần này là tháo gỡ các điểm chồng chéo, vướng mắc trong hệ thống pháp luật, đồng thời tạo thuận lợi hơn cho hoạt động thương mại và đầu tư. Theo ông, những cải cách nào trong các dự thảo chính sách có thể tạo tác động tích cực nhất đối với hoạt động của các doanh nghiệp nước ngoài tại Việt Nam?

Ông Nguyễn Minh Đức: Theo đánh giá của chúng tôi, các thay đổi lần này nhìn chung đều mang ý nghĩa tích cực đối với môi trường kinh doanh.

Trước đó, tôi đã đề cập đến câu chuyện sửa đổi các quy định liên quan đến Luật Thương mại, đặc biệt là phần hợp đồng thương mại. Đây là vấn đề doanh nghiệp quan tâm từ lâu vì liên quan trực tiếp đến quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp.

Một nội dung khác cũng được cộng đồng doanh nghiệp chú ý là quy định về các ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh hoặc các loại hàng hóa, dịch vụ thuộc diện hạn chế kinh doanh. Khi làm việc với nhiều doanh nghiệp nước ngoài tìm hiểu thị trường Việt Nam, câu hỏi đầu tiên họ thường đặt ra là Việt Nam cấm kinh doanh những gì và những lĩnh vực nào được phép kinh doanh?

Sự khác nhau giữa các văn bản khiến doanh nghiệp gặp khó trong việc xác định chính xác phạm vi hoạt động kinh doanh được phép thực hiện.

Ngoài ra, một vấn đề khác mà chúng tôi thường xuyên gặp khi hỗ trợ doanh nghiệp liên quan đến thủ tục nhập khẩu hàng hóa là yêu cầu về giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS). Theo quy định của Việt Nam, giấy chứng nhận này phải do cơ quan nhà nước cấp, kể cả trong trường hợp giấy được cấp tại nước ngoài.

Trong khi đó, tại nhiều quốc gia, CFS có thể được cấp bởi các tổ chức hoặc hiệp hội ngành nghề được phép hoạt động hợp pháp. Những giấy tờ này hoàn toàn được chấp nhận trong thương mại quốc tế. Tuy nhiên khi đưa vào Việt Nam lại không được công nhận do quy định hiện hành yêu cầu cơ quan nhà nước phải là đơn vị cấp.

Chính vì vậy, cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao việc Bộ Công Thương đã đưa những vấn đề như vậy vào nội dung sửa đổi lần này. Việc điều chỉnh các quy định theo hướng phù hợp hơn với thực tiễn thương mại quốc tế sẽ giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong hoạt động đầu tư, kinh doanh và giao thương.

Ông Nguyễn Minh Đức - Quản lý chính sách công, Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Công Thương - Ảnh: Thái Mạnh

Ông Nguyễn Minh Đức - Quản lý chính sách công, Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Công Thương - Ảnh: Thái Mạnh

Thúc đẩy doanh nghiệp hội nhập sâu hơn

- Một nội dung đáng chú ý được đề cập trong dự thảo là việc hoàn thiện cơ chế tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa gắn với các cam kết trong các hiệp định thương mại tự do (FTA). Theo ông, việc hoàn thiện cơ chế này sẽ mang lại những thuận lợi gì cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất khẩu và tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu?

Ông Nguyễn Minh Đức:Vấn đề chứng nhận xuất xứ hàng hóa từ trước đến nay cũng là một trong những nội dung gây nhiều vướng mắc cho doanh nghiệp. Việt Nam đã tham gia khá nhiều FTA và trong các FTA này, chúng ta đều có cam kết cho phép doanh nghiệp được tự chứng nhận xuất xứ. Theo đánh giá của chúng tôi, đây là một bước tiến rất quan trọng trong hoạt động thương mại. Tuy nhiên, quá trình triển khai trên thực tế tại Việt Nam vẫn chưa được như kỳ vọng.

Chúng tôi cũng hiểu rằng, cơ quan quản lý nhà nước có những lo ngại nhất định. Ví dụ, nếu doanh nghiệp được tự chứng nhận xuất xứ, có thể xuất hiện trường hợp lợi dụng cơ chế này để giả mạo xuất xứ, đưa hàng hóa từ nước khác vào Việt Nam rồi gắn nhãn xuất xứ Việt Nam. Điều đó có thể ảnh hưởng đến chính sách thuế quan và thậm chí tác động đến uy tín thương mại của Việt Nam trên thị trường quốc tế. Khi đó, Việt Nam có thể bị nhìn nhận như một nơi trung chuyển hàng hóa của các nước khác.

Tuy vậy, theo quan điểm của chúng tôi, cách tiếp cận này vẫn mang nặng tư duy quản lý theo hướng tiền kiểm, tức là Nhà nước phải kiểm soát chặt ngay từ đầu. Trong khi đó, xu hướng hiện nay đang chuyển dần sang tư duy hậu kiểm.

Theo cách tiếp cận này, doanh nghiệp được trao quyền chủ động nhiều hơn trong việc thực hiện các thủ tục liên quan đến xuất xứ hàng hóa. Cơ quan quản lý sẽ tập trung vào khâu kiểm tra sau, nếu doanh nghiệp vi phạm hoặc khai báo sai, sẽ phải chịu các chế tài nghiêm khắc.

Đây là hướng đi phù hợp với xu thế cải cách trong xây dựng pháp luật cũng như quản lý kinh tế. Tinh thần này cũng đã được thể hiện trong các định hướng đổi mới được nêu trong Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới và Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân khi Nhà nước từng bước chuyển từ kiểm soát chặt ngay từ đầu sang tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động, đồng thời tăng cường giám sát và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.

- Trong bối cảnh thương mại quốc tế đang thay đổi nhanh chóng, đặc biệt với sự phát triển của thương mại điện tử và các mô hình kinh doanh xuyên biên giới, theo ông, Luật Quản lý ngoại thương cần được hoàn thiện theo hướng nào để vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, vừa bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước?

Ông Nguyễn Minh Đức: Đối với Luật Quản lý ngoại thương, chúng tôi cho rằng, quá trình hoàn thiện luật cần bám sát hơn với những biến động của thực tiễn thương mại toàn cầu. Hoạt động thương mại quốc tế thay đổi rất nhanh và có nhiều tình huống phát sinh mà thời điểm xây dựng luật trước đây chúng ta chưa lường hết.

Ví dụ, trong luật hiện hành có những quy định cấm nhập khẩu một số loại hàng hóa nhằm bảo vệ sản xuất trong nước. Về nguyên tắc, quy định như vậy là hợp lý, tuy nhiên trong thực tế thương mại lại phát sinh những trường hợp khác. Có doanh nghiệp nhập khẩu hàng hóa về Việt Nam nhưng không phải để tiêu dùng trong nước mà để phục vụ hoạt động gia công, sửa chữa hoặc xử lý kỹ thuật, sau đó họ lại xuất khẩu trở lại ra thị trường nước ngoài.

Nếu áp dụng quy định cấm nhập khẩu một cách tuyệt đối đối với những trường hợp như vậy, sẽ phát sinh bất hợp lý. Bởi bản chất của hoạt động này là dịch vụ gia công, sửa chữa trong chuỗi cung ứng quốc tế, hàng hóa không đi vào tiêu dùng nội địa.

Chính vì vậy, việc sửa đổi Luật Quản lý ngoại thương theo hướng cập nhật thực tiễn thương mại là rất cần thiết. Đối với những hoạt động bình thường của doanh nghiệp khi không gây rủi ro đối với an toàn, an ninh hay môi trường của Việt Nam, chúng ta có thể nghiên cứu các giải pháp quản lý linh hoạt hơn.

Chẳng hạn, doanh nghiệp vẫn có thể được phép nhập khẩu hàng hóa vào, lưu giữ trong cơ sở sản xuất của mình để thực hiện gia công hoặc sửa chữa, sau đó xuất khẩu trở lại. Đi cùng với đó là cơ chế kiểm soát rõ ràng đối với đầu vào và đầu ra của hàng hóa, bảo đảm hàng hóa được quản lý chặt chẽ trong quá trình lưu giữ và xử lý.

Cách tiếp cận này sẽ hợp lý hơn so với việc áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu hoàn toàn. Bởi trong khi vẫn giữ được mục tiêu quản lý nhà nước, chúng ta đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào các hoạt động thương mại và chuỗi cung ứng quốc tế.

Do đó, trong quá trình sửa đổi Luật Quản lý ngoại thương cần khảo sát kỹ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, nhận diện rõ những vướng mắc đang tồn tại trong thương mại quốc tế. Từ những vấn đề cụ thể đó, cơ quan xây dựng chính sách có thể đề xuất các quy định phù hợp hơn, vừa bảo đảm yêu cầu quản lý vừa giúp hoạt động thương mại của doanh nghiệp trở nên thuận lợi và hiệu quả hơn.

Xin cảm ơn ông!

Ngày 6/3/2026, tại Hà Nội, Bộ Công Thương tổ chức Hội nghị lấy ý kiến đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tại hội nghị, nhiều ý kiến từ phía doanh nghiệp đánh giá cao tinh thần tích cực, chủ động của Bộ Công Thương khi xây dựng dự án sửa đổi 4 luật trên.

Nguyên Thảo (thực hiện)

Có thể bạn quan tâm