Khơi thông nguồn lực
Chiều ngày 11/8, Tạp chí Kinh tế Việt Nam tổ chức Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng”, với sự tham gia của các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và đại diện các tổ chức trong nước, quốc tế. Trong khuôn khổ diễn đàn đã diễn ra phiên thảo luận “Từ thể chế đến thực thi: Kiến tạo nền năng lượng cạnh tranh và bền vững”.
Tại phiên thảo luận, các diễn giả đã tập trung làm rõ những yêu cầu đặt ra đối với việc sửa đổi Luật Dầu khí trong giai đoạn phát triển mới. Các chuyên gia cho rằng, trước những thay đổi nhanh chóng của thị trường năng lượng và cuộc cạnh tranh thu hút dòng vốn đầu tư ngày càng quyết liệt trong khu vực, việc sửa đổi Luật Dầu khí không chỉ nhằm tháo gỡ những vướng mắc hiện hữu mà cần tạo ra một hành lang pháp lý đủ thông thoáng, ổn định và có khả năng thích ứng với những lĩnh vực năng lượng mới.
Trong đó, những vấn đề được đặc biệt quan tâm là tăng quyền chủ động cho doanh nghiệp, đơn giản hóa thủ tục, nâng cao tính minh bạch và khả năng dự báo chính sách, phân bổ hợp lý rủi ro, đồng thời mở đường cho các lĩnh vực mới như thu giữ và lưu trữ carbon (CCS), năng lượng ngoài khơi. Đây được xem là những yếu tố quan trọng để khơi thông nguồn lực, thu hút dòng vốn quốc tế và nâng cao sức cạnh tranh của ngành năng lượng Việt Nam.
Phiên thảo luận “Từ thể chế đến thực thi: Kiến tạo nền năng lượng cạnh tranh và bền vững”.
Theo luật sư Trương Thanh Đức, Giám đốc Công ty Luật ANVI, sửa đổi Luật Dầu khí lần này được xây dựng trong bối cảnh mới. Nếu như trước đây, từ năm 1993, luật tồn tại rất lâu mới sửa đổi thì bây giờ tình hình thay đổi rất nhanh. Vì không phải bản thân luật đó cần thay đổi, mà nó nằm trong bối cảnh của nền kinh tế, trong yêu cầu, mục tiêu phát triển mới của chúng ta, cộng với những biến động rất nhanh chóng của thế giới. “Đặc biệt, trong lĩnh vực dầu khí, khi một số cuộc xung đột gây ảnh hưởng đến an ninh năng lượng quốc gia thì chúng ta càng thấy việc thay đổi là cần thiết”, ông Đức nhấn mạnh.
Đại diện Công ty Luật ANVI cho rằng, điểm thuận lợi và cũng rất khác biệt là hiện nay có một loạt nghị quyết về phát triển kinh tế tư nhân, đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước. Trong đó, dầu khí có thể nói là điển hình về vai trò của doanh nghiệp nhà nước. "Luật Dầu khí có tính đặc thù. Một là yêu cầu phát triển; hai là rất phù hợp với thực tế mấy chục năm nay. Có thể nói rằng Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) vừa giữ vai trò là doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh, nhưng đồng thời phần nào đó cũng thay mặt Nhà nước để quản lý, điều phối, trực tiếp thực hiện các hoạt động hợp tác về đầu tư, kinh doanh”, ông Đức chỉ ra.
Cũng theo lãnh đạo Công ty Luật ANVI, vai trò của Petrovietnam đang ngày càng được đẩy mạnh và đề cao. “Những thay đổi này đồng thời sẽ hỗ trợ rất tốt cho các doanh nghiệp tư nhân, các thành phần kinh tế khác và đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động dầu khí. Qua đó, tạo ra sự nhanh nhạy, chủ động và tính thị trường rất cao”, ông Đức chia sẻ.
Mở cửa cho dòng vốn năng lượng
Cũng tại phiên thảo luận, bà Vũ Yến Hằng, Chủ tịch Minh Triết Capital JSC cho biết, dự thảo Luật Dầu khí 2026 đã có những bước tiến đáng kể. Trong đó, nhiều thủ tục được đơn giản hóa; việc phân cấp, trao quyền được đẩy mạnh; cơ chế hợp đồng trở nên rõ nét hơn. Khuôn khổ pháp lý cũng được mở rộng sang các lĩnh vực như CCS, năng lượng ngoài khơi và các dịch vụ kỹ thuật cao. Đồng thời, bổ sung những cơ chế thuận lợi hơn đối với các mỏ cận biên, mỏ cuối đời. Đây là những điểm mới kịp thời, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của môi trường đầu tư.
Sửa đổi Luật Dầu khí không chỉ tháo gỡ vướng mắc mà còn tạo hành lang pháp lý thuận lợi.
Theo Chủ tịch Minh Triết Capital JSC, bên cạnh các chính sách ưu đãi, có ba yếu tố đặc biệt quan trọng đối với quyết định của nhà đầu tư quốc tế, gồm tính minh bạch trong thực thi, khả năng dự báo chính sách và tốc độ ra quyết định. Đây cũng là những tiêu chí để nhà đầu tư cân nhắc lựa chọn Việt Nam hay một quốc gia khác làm điểm đến của dòng vốn.
Một vấn đề khác được bà Hằng nhấn mạnh là Việt Nam không chỉ cần thu hút vốn cho từng dự án dầu khí hay năng lượng ngoài khơi riêng lẻ, mà cần hướng tới thu hút nguồn lực cho cả một hệ sinh thái đầu tư năng lượng. Theo đó, nguồn vốn cần được huy động đa dạng từ các định chế tài chính, quỹ đầu tư hạ tầng, nguồn tài chính xanh, vốn chủ sở hữu, vốn dự án cũng như các nhà đầu tư chiến lược. “Tôi tin rằng với tốc độ tăng trưởng nhanh, cùng nhu cầu năng lượng và chuyển đổi năng lượng rất lớn, Việt Nam sẽ trở thành một điểm đến hấp dẫn đối với dòng vốn đầu tư vào dầu khí và năng lượng trong khu vực”, bà Hằng nhận định.
Ông Bùi Đào Thái Trường, Tổng giám đốc Roland Berger tại Việt Nam cho rằng, sửa đổi Luật Dầu khí được kỳ vọng sẽ tạo tiền đề quan trọng để Việt Nam khai thác tốt hơn những tiềm năng sẵn có, đồng thời đẩy nhanh quá trình phát triển CCS để từng bước bắt kịp các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là một số nước Đông Nam Á.
Theo ông Trường, Malaysia đã hình thành nhiều dự án CCS, trong khi Indonesia cũng đang thúc đẩy mạnh lĩnh vực này. Các dự án không chỉ được dẫn dắt bởi những doanh nghiệp năng lượng lớn mà còn có sự tham gia, liên doanh với các tập đoàn quốc tế để triển khai những dự án quy mô lớn.
Từ những ý kiến tại phiên thảo luận có thể thấy, yêu cầu đặt ra đối với việc sửa đổi Luật Dầu khí không chỉ là giải quyết những điểm nghẽn trước mắt, mà còn phải tạo dư địa cho những mô hình, công nghệ và dòng vốn mới. Một khuôn khổ pháp lý minh bạch, có khả năng dự báo và thích ứng nhanh được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam chuyển hóa tiềm năng năng lượng thành lợi thế đầu tư, qua đó nâng cao sức cạnh tranh trong khu vực.
Tại diễn đàn, ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cho biết, việc sửa đổi Luật Dầu khí năm 2026 diễn ra trong bối cảnh cả quốc tế và trong nước có nhiều thay đổi, trong đó mục tiêu phát triển đất nước đặt ra yêu cầu tăng trưởng nhanh, mạnh mẽ và bền vững hơn.
Năng lượng là yếu tố đặc biệt quan trọng để thực hiện mục tiêu này. Riêng hoạt động dầu khí không chỉ đóng góp về năng lượng mà còn gắn với chiến lược kinh tế biển và góp phần bảo đảm an ninh quốc gia trên biển. Việc sửa đổi Luật Dầu khí không chỉ nhằm hoàn thiện mà hướng tới một mục tiêu lớn hơn là biến thể chế thành lợi thế cạnh tranh quốc gia và để thể chế đi trước.