Trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa là lĩnh vực đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ nhằm đổi mới phương thức khai thác, quảng bá, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ và trải nghiệm của du khách. Ông Bùi Thanh Tú - Giám đốc Marketing Công ty BestPrice Travel chia sẻ về vấn đề này với Báo Công Thương.
Người dân tìm hiểu di sản qua bản đồ số tương tác, hệ thống mã QR đặt tại di tích.
Công nghệ gia tăng trải nghiệm cho sản phẩm du lịch văn hóa
- Từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, ông đánh giá như thế nào về vai trò của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) trong đổi mới sản phẩm, dịch vụ, nâng cao trải nghiệm khách hàng và mở rộng thị trường cho các ngành công nghiệp văn hóa, đặc biệt là du lịch văn hóa?
Ông Bùi Thanh Tú: Theo tôi, điều cần lưu ý trước tiên là đầu tư công nghệ không tự động tạo ra sản phẩm hấp dẫn. Nếu câu chuyện văn hóa còn đơn điệu, dịch vụ chưa tốt thì dù có thêm ứng dụng hay hiệu ứng trình chiếu, cũng khó giữ chân du khách. Công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi giúp giải quyết một nhu cầu cụ thể của khách hàng và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Từ góc nhìn doanh nghiệp lữ hành, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) có thể tạo ra thay đổi trên toàn bộ hành trình của du khách. Trước chuyến đi, công nghệ giúp khách dễ dàng tìm hiểu điểm đến, tiếp cận nội dung bằng ngôn ngữ của mình và lựa chọn trải nghiệm phù hợp. Trong chuyến đi, thuyết minh đa ngôn ngữ, bản đồ số, đặt vé trực tuyến hay các ứng dụng tương tác có thể giúp khách chủ động khám phá và hiểu sâu hơn về nơi mình đến. Sau chuyến đi, dữ liệu phản hồi giúp doanh nghiệp cải thiện dịch vụ, duy trì quan hệ và gợi ý những hành trình tiếp theo.
Về đổi mới sản phẩm, AI có thể hỗ trợ phân tích nhu cầu để doanh nghiệp thiết kế những hành trình chuyên sâu hơn: khám phá kiến trúc, tìm hiểu ẩm thực, trải nghiệm làng nghề hoặc nghệ thuật truyền thống. Một gia đình có trẻ nhỏ, một nhóm khách cao tuổi và một du khách yêu lịch sử có thể cùng đến một di sản nhưng cần cách tiếp cận khác nhau. Công nghệ giúp doanh nghiệp phục vụ sự khác biệt đó hiệu quả hơn.
Đối với mở rộng thị trường, giá trị lớn là khả năng đưa những sản phẩm văn hóa vốn ít được biết đến tiếp cận đúng nhóm khách ở nước ngoài. Một trải nghiệm làm nghề cùng nghệ nhân có thể khó quảng bá bằng một vài bức ảnh, nhưng sẽ dễ truyền tải hơn qua video, câu chuyện đa ngôn ngữ và hệ thống đặt dịch vụ thuận tiện. Qua đó, du lịch còn tạo đầu ra cho thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế và nhiều lĩnh vực văn hóa khác.
Tôi cho rằng, lợi thế cạnh tranh sẽ thuộc về doanh nghiệp kết hợp được sự am hiểu văn hóa, năng lực phục vụ và công nghệ. AI có thể hỗ trợ xử lý thông tin, nhưng sự hiếu khách, cảm xúc và cuộc gặp gỡ với con người địa phương vẫn là phần cốt lõi của trải nghiệm du lịch.
- Việc ứng dụng công nghệ số đang mở ra những hướng đi mới để khai thác giá trị di sản, văn hóa truyền thống và phát triển các sản phẩm du lịch sáng tạo. Theo ông, doanh nghiệp cần ứng dụng công nghệ như thế nào để vừa tạo ra giá trị kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh, vừa bảo tồn bản sắc văn hóa và phát huy những giá trị?
Ông Bùi Thanh Tú: Theo tôi, nguyên tắc quan trọng nhất là công nghệ phải giúp du khách hiểu đúng và trân trọng hơn giá trị văn hóa. Nếu chỉ chạy theo hiệu ứng thị giác hoặc nội dung dễ lan truyền, chúng ta có nguy cơ tạo ra những sản phẩm đẹp mắt nhưng làm mờ bản sắc của điểm đến.
Doanh nghiệp nên bắt đầu từ dữ liệu và nội dung đã được kiểm chứng. Khi số hóa một di tích, xây dựng thuyết minh hay sử dụng AI để kể chuyện, cần có sự tham gia của đơn vị quản lý di sản, nhà nghiên cứu, nghệ nhân và cộng đồng sở tại. Đặc biệt, những hình ảnh phục dựng hoặc chi tiết sáng tạo cần được giải thích rõ, tránh khiến du khách hiểu đó là tư liệu lịch sử nguyên gốc.
Bước tiếp theo là gắn nội dung số với trải nghiệm thực tế có thể tạo doanh thu. Chẳng hạn, một hành trình khám phá làng nghề có thể bắt đầu bằng câu chuyện số về lịch sử nghề, tiếp nối bằng hoạt động gặp nghệ nhân, tự tay làm sản phẩm và mua những sản phẩm có thông tin nguồn gốc rõ ràng. Khi đó, công nghệ giúp nâng cao hiểu biết và khơi gợi nhu cầu, còn giá trị kinh tế được tạo ra từ chất lượng trải nghiệm, tay nghề và sự độc đáo của sản phẩm.
Một yêu cầu khác là cộng đồng phải được tham gia và hưởng lợi. Việc sử dụng hình ảnh, câu chuyện, giọng nói hay tri thức của nghệ nhân cần có sự đồng thuận và thỏa thuận quyền lợi rõ ràng. Nếu người giữ nghề có thêm thu nhập từ truyền dạy, biểu diễn và bán sản phẩm, họ sẽ có thêm điều kiện để tiếp tục bảo tồn nghề.
Công nghệ cũng có thể hỗ trợ đặt giờ tham quan, phân bổ lượng khách và giới thiệu những tuyến trải nghiệm khác nhau, qua đó giảm sức ép lên không gian di sản. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần tôn trọng những giới hạn của từng địa điểm, nhất là không gian tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng.
Hiệu quả vì thế cần được đánh giá bằng cả doanh thu, mức độ hài lòng, thu nhập của người dân và tình trạng bảo tồn. Một sản phẩm thành công phải khiến du khách sẵn sàng trả tiền cho giá trị văn hóa, đồng thời tạo thêm nguồn lực để giá trị đó tiếp tục được gìn giữ.
Ông Bùi Thanh Tú - Giám đốc Marketing Công ty BestPrice Travel.
Đưa ý tưởng thành sản phẩm và bán được trên thị trường
- Để công nghệ thực sự trở thành động lực thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển, đóng góp vào mục tiêu đạt khoảng 7% GDP vào năm 2030, theo ông, doanh nghiệp cần những cơ chế hỗ trợ ra sao?
Ông Bùi Thanh Tú: Để công nghệ thực sự đóng góp vào mục tiêu phát triển công nghiệp văn hóa, theo tôi, điều doanh nghiệp cần là một môi trường giúp đưa ý tưởng thành sản phẩm có thể vận hành và bán được trên thị trường. Hiện nay, một doanh nghiệp lữ hành có thể hiểu khách hàng nhưng thiếu dữ liệu văn hóa; đơn vị công nghệ có giải pháp nhưng thiếu môi trường thử nghiệm; nghệ nhân và đơn vị quản lý di sản có nội dung nhưng chưa mạnh về phân phối. Theo đó, cần có cơ chế kết nối những năng lực này.
Trước hết, chúng tôi mong có nguồn dữ liệu văn hóa, di sản được chuẩn hóa, có thông tin về nguồn gốc và điều kiện sử dụng rõ ràng. Nhà nước có thể ưu tiên xây dựng dữ liệu nền dùng chung để doanh nghiệp phát triển sản phẩm trên đó. Việc này giúp giảm chi phí làm lại từ đầu, đồng thời hạn chế tình trạng mỗi đơn vị giới thiệu một cách khác nhau về cùng một di sản.
Thứ hai, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thử nghiệm công nghệ với quy mô phù hợp. Có thể xem xét các chương trình đồng tài trợ, hỗ trợ thuê dịch vụ công nghệ hoặc kết nối chuyên gia cho những dự án có sản phẩm và đầu ra cụ thể. Việc hỗ trợ nên theo từng giai đoạn, dựa trên kết quả thử nghiệm và khả năng duy trì sau khi kết thúc hỗ trợ.
Thứ ba, cơ chế hợp tác rõ ràng giữa đơn vị quản lý di sản, doanh nghiệp, nghệ nhân và đối tác công nghệ. Cần làm rõ quyền khai thác nội dung, trách nhiệm thẩm định, quyền sở hữu sản phẩm số, phương thức chia sẻ doanh thu và phần đóng góp trở lại cho bảo tồn. Khi các bên hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm, doanh nghiệp mới có cơ sở đầu tư lâu dài.
Thứ tư, nhân lực. Chúng ta cần những người vừa hiểu văn hóa, vừa hiểu công nghệ và thị trường. Các chương trình đào tạo nên gắn với dự án thực tế, chẳng hạn cùng xây dựng một tuyến du lịch văn hóa, một bộ thuyết minh đa ngôn ngữ hoặc một trải nghiệm làng nghề có thể nhận đặt chỗ trực tuyến.
Cuối cùng là hỗ trợ kết nối thị trường. Các sản phẩm sau khi hoàn thiện cần được đưa vào mạng lưới của doanh nghiệp lữ hành, khách sạn, nền tảng đặt dịch vụ và các chương trình xúc tiến quốc tế. Địa phương có thể lựa chọn một số điểm đến, làng nghề hoặc không gian văn hóa để triển khai thí điểm trọn vẹn từ nội dung, công nghệ, vận hành đến bán hàng, sau đó đánh giá trước khi nhân rộng.
Về phía doanh nghiệp, chúng tôi cũng phải chủ động đầu tư, nghiên cứu khách hàng và chịu trách nhiệm về chất lượng. Sự hỗ trợ của Nhà nước sẽ phát huy hiệu quả nhất khi giúp các bên cùng tạo ra những sản phẩm văn hóa có sức sống trên thị trường, mang lại thu nhập cho cộng đồng và có nguồn lực tái đầu tư cho bảo tồn.
- Xin cảm ơn ông!
Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định 10 ngành công nghiệp văn hóa chủ chốt được ưu tiên phát triển gồm: Điện ảnh; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; nghệ thuật biểu diễn; phần mềm và các trò chơi giải trí; quảng cáo; thủ công mỹ nghệ; du lịch văn hóa; thiết kế sáng tạo; truyền hình và phát thanh; xuất bản. Đây là những ngành tạo ra các sản phẩm kết hợp yếu tố văn hóa, sáng tạo, công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, hưởng thụ văn hóa của người dân và phù hợp với mục tiêu hội nhập quốc tế, phát triển bền vững đất nước.