Chính phủ ban hành Nghị định số 30/2026/NĐ-CP ngày 21/1/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.

Quy định về quản lý phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng và vật liệu xây dựng. Ảnh minh họa
Nghị định gồm 8 chương, 29 điều, áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh, vận chuyển và sử dụng năng lượng tại Việt Nam.
Nghị định quy định cụ thể về quản lý, giám sát sử dụng năng lượng; cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm; kiểm toán năng lượng; sử dụng năng lượng trong khu vực sử dụng ngân sách nhà nước; chuyển đổi thị trường; dán nhãn năng lượng; quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; cũng như công tác kiểm tra, thanh tra trong lĩnh vực này.
Theo Nghị định, nhãn năng lượng gồm ba loại: nhãn so sánh, cung cấp thông tin về mức tiêu thụ và hiệu suất năng lượng, giúp người tiêu dùng so sánh, lựa chọn sản phẩm tiết kiệm năng lượng; nhãn xác nhận, áp dụng đối với sản phẩm, phương tiện, thiết bị và vật liệu xây dựng đạt hoặc vượt mức hiệu suất năng lượng theo tiêu chuẩn quy định; nhãn năng lượng của phương tiện, cung cấp thông tin về loại năng lượng sử dụng, mức tiêu thụ và kiểu loại phương tiện.
Chỉ số hiệu suất năng lượng, mức tiêu thụ năng lượng của phương tiện, thiết bị và đặc tính nhiệt của vật liệu xây dựng được quy định trong các tiêu chuẩn quốc gia. Bộ Công Thương và Bộ Xây dựng căn cứ các chỉ số này để quy định nội dung cụ thể của nhãn năng lượng theo thẩm quyền.
Hồ sơ công bố dán nhãn năng lượng gồm các thông số kỹ thuật; kết quả thử nghiệm do phòng thử nghiệm được công bố; giấy công bố dán nhãn và mẫu nhãn dự kiến. Bộ Công Thương tiếp nhận hồ sơ đối với phương tiện, thiết bị; Bộ Xây dựng tiếp nhận hồ sơ đối với phương tiện giao thông và vật liệu xây dựng.
Nghị định quy định đình chỉ việc dán nhãn năng lượng đối với các trường hợp: dán nhãn năng lượng giả; dán nhãn khi chưa thực hiện công bố theo quy định; nhãn không đúng nội dung, quy cách hoặc ghi sai thông số hiệu suất năng lượng, mức tiêu thụ năng lượng hoặc đặc tính nhiệt của sản phẩm.
Đồng thời, đình chỉ và thu hồi dán nhãn năng lượng đối với phương tiện, thiết bị, vật liệu xây dựng trong trường hợp có gian dối trong hồ sơ công bố; kết quả thử nghiệm không phù hợp với thông tin đã công bố; hoặc bị xử phạt từ hai lần trở lên do vi phạm quy định về dán nhãn năng lượng.
Bộ Công Thương và Bộ Xây dựng có trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức thực hiện các quy định nêu trên theo phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao.
Theo Nghị định, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp nhập khẩu phương tiện, thiết bị và vật liệu xây dựng thuộc diện phải dán nhãn năng lượng có trách nhiệm báo cáo hằng năm với UBND cấp tỉnh nơi đặt cơ sở sản xuất hoặc đăng ký kinh doanh.
Báo cáo nêu rõ thông tin về cơ sở; số lượng, chủng loại phương tiện, thiết bị, vật liệu xây dựng đã sản xuất, nhập khẩu, tiêu thụ trong năm; cùng các chỉ số về hiệu suất năng lượng, mức tiêu thụ năng lượng hoặc đặc tính nhiệt theo từng loại sản phẩm.
Hằng năm, các cơ sở và doanh nghiệp đã công bố dán nhãn năng lượng cũng phải tổng hợp, thống kê số lượng, chủng loại sản phẩm dán nhãn đưa ra thị trường và gửi báo cáo về bộ quản lý chuyên ngành trước ngày 1/3 của năm tiếp theo.
Nghị định cũng quy định các phương tiện, thiết bị thuộc diện phải loại bỏ gồm: không đáp ứng quy chuẩn an toàn; có hiệu suất sử dụng năng lượng thấp hơn mức tối thiểu; hoặc không còn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và quản lý nhà nước trong từng giai đoạn.
Mức hiệu suất năng lượng tối thiểu được Bộ Khoa học và Công nghệ công bố trong các tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng đối với phương tiện, thiết bị.
Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục phương tiện, thiết bị phải loại bỏ theo quy định.
Nghị định có hiệu lực từ ngày ký, thay thế Nghị định số 21/2011/NĐ-CP. Chứng chỉ quản lý năng lượng được cấp trước thời điểm này tiếp tục có giá trị đến hết ngày 31/12/2030.





