Tháo gỡ nhiều "điểm thắt"
Tại Hội thảo "Điện gió Việt Nam - Chia sẻ góc nhìn và kết nối" do Viện Xây dựng công trình biển (trực thuộc Đại học Xây dựng Hà Nội) vừa được tổ chức mới đây, các chuyên gia đều nhận định Việt Nam có tiềm năng gió lớn, nhưng không thể đồng nhất tiềm năng lý thuyết với khả năng triển khai ngay thành hàng trăm GW công suất. Các chuyên gia nhận định một vùng biển được đưa vào diện nghiên cứu không có nghĩa là dự án chắc chắn triển khai được. Chính vì vậy, bài toán đầu tiên của điện gió ngoài khơi không phải là đặt bao nhiêu tuabin trên biển, mà là xác định ở đâu thực sự có thể xây dựng dự án, xây dựng như thế nào và bằng hệ thống hạ tầng nào.
Theo GS.TS Đinh Quang Cường (Viện Xây dựng công trình biển), tài nguyên gió và sản lượng điện chỉ là cơ sở đầu tiên để đánh giá tính khả thi của một dự án. Nhà đầu tư còn phải xác định quyền phát triển tại khu vực biển dự kiến và những giới hạn về không gian: một khu vực có gió tốt nhưng chồng lấn với hàng hải, dầu khí, thủy sản, khu bảo tồn biển, tuyến cáp ngầm hay đường ống… thì chưa thể coi là vị trí sẵn sàng cho dự án. Quy hoạch không gian biển, vì vậy, phải được nhìn nhận như một nền tảng của điện gió ngoài khơi để xác định những vùng thực sự khả thi.
Trong khi đó, đại diện Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng Điện 1 (EVNPECC1) đặt vấn đề từ góc nhìn đơn vị tư vấn: rủi ro của điện gió ngoài khơi tập trung rất lớn ngay trong giai đoạn chuẩn bị. Khi các điều kiện biên của dự án chưa được xác định rõ, rủi ro không biến mất mà chuyển sang các bước nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, thi công, và cuối cùng thể hiện bằng chi phí tăng thêm, tiến độ kéo dài. Một vùng biển được đưa vào nghiên cứu không đồng nghĩa dự án chắc chắn được nhà đầu tư có thể bỏ chi phí khảo sát đáng kể, để rồi phát hiện khu vực chồng lấn quy hoạch khác, không có điểm cập bờ phù hợp hoặc thiếu hành lang đấu nối lưới điện.
Bài toán không gian vì thế phải trả lời hàng loạt câu hỏi từ rất sớm: khu vực đã có tổ chức nào đăng ký nghiên cứu; luồng hàng hải, khu neo đậu, cảng biển có ảnh hưởng hay không; các khu vực dầu khí, thủy sản, bảo tồn… nằm ở đâu; tuyến cáp ngầm đi qua vị trí nào; điểm đưa cáp vào bờ ở đâu; trạm biến áp và hệ thống truyền tải có tiếp nhận được công suất hay không. Ngay cả khoảng cách giữa các trang trại gió cũng không thể giải quyết bằng một con số cố định, mà phụ thuộc đặc điểm gió, hiệu ứng giảm gió sau tuabin và điều kiện từng khu vực - nếu không xác định sớm, nguy cơ xung đột giữa các dự án sẽ tăng khi hoạt động phát triển điện gió tăng tốc.
Công trình chân đế điện gió ngoài khơi xuất khẩu của Petrovietnam.
Một nút thắt khác được nhấn mạnh là điểm cập bờ. Điện gió ngoài khơi thực chất là một chuỗi liên hoàn: tuabin, cáp nội vùng, trạm biến áp ngoài khơi, cáp truyền tải, điểm cập bờ, tuyến cáp trên đất liền, trạm biến áp và lưới điện quốc gia. Một dự án có vị trí ngoài biển thuận lợi vẫn có thể không khả thi nếu không tìm được phương án đưa điện vào hệ thống. Theo đại diện EVNPECC1, khi chưa xác định điểm đấu nối, cấp điện áp, tiến độ xây dựng đường dây và khả năng giải tỏa công suất, mọi đánh giá khả thi mới chỉ là đánh giá có điều kiện. Điện gió ngoài khơi không thể quy hoạch như một "cụm tuabin" độc lập mà phải được xem là một hệ thống năng lượng hoàn chỉnh.
Ở góc nhìn doanh nghiệp quốc tế, chia sẻ tại hội thảo, ông Zhang Ming Hui, Giám đốc Điện gió ngoài khơi khu vực châu Á - Thái Bình Dương (thuộc hệ thống năng lượng DNV - tổ chức tại Na Uy chuyên tư vấn về năng lượng tái tạo, lưới điện...) cho rằng, chất lượng dữ liệu khảo sát và thẩm định kỹ thuật sớm là một trong những bài học quan trọng nhất từ các thị trường đi trước: khảo sát quá sơ sài khiến thiết kế dựa trên giả định thiếu chắc chắn, còn khảo sát quá mức khi dự án chưa được duyệt lại đẩy chi phí phát triển lên cao. Vì vậy, cần một bộ yêu cầu khảo sát tối thiểu cho từng giai đoạn, từ tiền khả thi đến thiết kế chi tiết.
Ông Zhang Ming Hui cũng cho rằng, chất lượng dữ liệu khảo sát và thẩm định kỹ thuật sớm là một trong những bài học quan trọng nhất của các dự án điện gió ngoài khơi: dữ liệu gió, sóng và địa chất không đầy đủ có thể dẫn tới thiết kế lại và chậm tiến độ. Các dự án thành công thường đầu tư khảo sát chi tiết trước khi ra quyết định đầu tư cuối cùng, đồng thời thực hiện thẩm định kỹ thuật độc lập để đánh giá chính xác rủi ro.
Một điểm chung khác của các ý kiến trong nước là điện gió ngoài khơi không chỉ cần khả thi về kỹ thuật, mà còn phải đủ độ tin cậy để thu hút vốn. Đây cũng chính là bài toán mà nhiều quốc gia đi trước đã phải giải. Theo kinh nghiệm của ông Zhang Ming Hui, cơ chế giá điện và hợp đồng mua bán điện minh bạch, ổn định là điều kiện quan trọng để thu hút vốn quốc tế. Cùng với đó, quy hoạch đấu nối phải đi trước hoặc ít nhất triển khai đồng bộ với tiến độ xây dựng trang trại gió, nhằm giảm rủi ro chậm tiến độ và nâng cao khả năng thu xếp vốn.
Nhìn từ bức tranh toàn cầu
Báo cáo Global Offshore Wind Report của Hội đồng Năng lượng gió toàn cầu (GWEC) công bố năm 2025 cho biết, tổng công suất điện gió ngoài khơi lắp đặt trên thế giới đã đạt 83 GW tính đến cuối năm 2024, riêng năm 2024 bổ sung 8 GW - năm cao thứ tư trong lịch sử ngành. Trung Quốc dẫn đầu năm thứ bảy liên tiếp với khoảng một nửa thị phần lũy kế toàn cầu, theo sau là Anh, Đức và Pháp. GWEC dự báo tốc độ tăng trưởng kép khoảng 21% mỗi năm đến năm 2034, với quy mô lắp đặt hàng năm có thể đạt 30 GW vào năm 2030 và 55 GW vào năm 2034.
GWEC nhấn mạnh, để hiện thực hóa mức tăng trưởng này, "ngành công nghiệp và các chính phủ cần khẩn trương phối hợp để thiết kế lại quy trình đấu thầu theo hướng tập trung vào khả năng triển khai thực tế và chia sẻ rủi ro tốt hơn" giữa nhà nước và nhà đầu tư, thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá. Đáng chú ý, báo cáo xếp Việt Nam vào nhóm thị trường mới nổi cùng Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Australia, Brazil, Colombia nơi sự phối hợp chặt chẽ giữa chính phủ và doanh nghiệp trong xây dựng khung chính sách, pháp lý được xem là điều kiện tiên quyết để mở rộng quy mô.
Ông Lê Mạnh Cường hiện là Tổng Giám đốc Petrovietnam và Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng (thời điểm là lãnh đạo Petrovietnam) khảo sát dự án điện gió ngoài khơi tại Na Uy năm 2024.
Nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn để điện gió ngoài khơi bứt phá, nhiều nước trên thế giới đã có những cách làm khác nhau. Theo đó, các chỉ tiêu tài chính của dự án phải được tính trên toàn bộ vòng đời: vốn đầu tư, chi phí vận hành, sản lượng điện, hệ số sử dụng công suất, chi phí kết nối lưới, chi phí tháo dỡ và dự phòng rủi ro. Một dự án có tài nguyên gió tốt nhưng thiếu phương án truyền tải hợp lý, hoặc chi phí logistics quá cao, vẫn có thể không đạt hiệu quả kinh tế.
Tại Đức, Cơ quan Hàng hải và Thủy văn Liên bang (BSH) vận hành mô hình khảo sát sơ bộ tập trung cho các khu vực điện gió ngoài khơi, tiến hành trước khi Cơ quan Mạng lưới Liên bang (BNetzA) mở đấu thầu. Theo thông tin công bố trên trang của BSH, các cuộc khảo sát này đánh giá đồng thời bốn nhóm dữ liệu: môi trường biển, nền đất đáy biển, điều kiện gió - hải văn và khả năng lưu thông hàng hải. Nhà nước gánh phần chi phí khảo sát nền ngay từ đầu, thay vì để từng nhà đầu tư tự khảo sát trùng lặp, đồng thời tạo mặt bằng dữ liệu chung cho các bên đấu thầu. Doanh nghiệp trúng thầu sử dụng ngay kết quả khảo sát của nhà nước làm nền tảng đánh giá tác động môi trường và cấp phép tiếp theo, nhờ đó rút ngắn đáng kể thời gian từ trúng thầu đến khởi công.
Nước Anh chọn cách tiếp cận khác. The Crown Estate - cơ quan quản lý phần lớn đáy biển thuộc Anh - cấp giấy phép khảo sát đáy biển (Seabed Survey Licences), cho phép nhà đầu tư khảo sát địa kỹ thuật, địa vật lý và sinh thái trước khi bước vào các vòng đấu thầu quy hoạch không gian biển. Việc xác định trước khu vực đấu thầu tiềm năng, giúp thị trường có tín hiệu quy hoạch rõ ràng trước khi dòng vốn đổ vào giai đoạn phát triển dự án.
Đan Mạch - quốc gia có gần hai thập kỷ kinh nghiệm vận hành điện gió ngoài khơi - theo đuổi mô hình "một cửa" (one-stop-shop) được nhiều tổ chức năng lượng châu Âu xem là hình mẫu tham chiếu. Theo tài liệu nghiên cứu chính sách quy hoạch điện gió ngoài khơi Đan Mạch do Cơ quan Môi trường châu Âu tổng hợp (hồ sơ OURCOAST), quy trình bắt đầu bằng việc Cơ quan Năng lượng Đan Mạch sàng lọc khu vực tiềm năng trước, sau đó mới đấu thầu. Cơ quan này là đầu mối duy nhất xử lý các lợi ích chồng lấn giữa hàng hải, quốc phòng, thủy sản, bảo tồn sinh thái và phát triển năng lượng, tránh để nhà đầu tư phải "chạy" qua nhiều cửa với các yêu cầu dữ liệu khác nhau. Theo đó, chính khoản đầu tư dài hạn của nhà nước vào các chương trình quan trắc môi trường đã "làm tăng mức độ hiểu biết và do đó giảm thiểu sự bất định cho các nhà vận hành".
Còn tại Hà Lan, nút thắt điểm cập bờ và hành lang đấu nối lưới điện mà các chuyên gia Việt Nam nhấn mạnh cũng chính là vấn đề Hà Lan xử lý bài bản nhất. Theo Cơ quan Doanh nghiệp Hà Lan (RVO), các chương trình như PAWOZ và VAWOZ được nhà nước triển khai nhằm khảo sát trước tuyến cáp và điểm đấu nối vào bờ có triển vọng, trước khi khu vực đó được đưa ra đấu thầu. TenneT - đơn vị được chỉ định là nhà vận hành lưới điện ngoài khơi duy nhất của Hà Lan từ năm 2016 - phối hợp với các cơ quan quy hoạch để xác định trước hạ tầng truyền tải cần thiết. "Khung phát triển điện gió ngoài khơi" của Hà Lan nêu rõ mục tiêu mang lại cho nhà đầu tư "sự rõ ràng từ sớm về quy hoạch và các điều kiện tiên quyết". Nói cách khác, thay vì để từng doanh nghiệp tự đề xuất và cạnh tranh phương án đấu nối dễ dẫn tới xung đột hạ tầng, nhà nước Hà Lan nhận về mình phần việc điều phối tốn kém thời gian và rủi ro nhất.
Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế, điện gió ngoài khơi là lĩnh vực mà sai số ở giai đoạn đầu có thể trở thành chi phí rất lớn ở giai đoạn sau. Các chuyên gia cho rằng, con đường phát triển vì vậy không nên bắt đầu bằng cuộc đua công suất mà phải bằng việc hoàn thiện cơ sở dữ liệu không gian biển, quy định khảo sát, cơ sở thiết kế, hệ thống tiêu chuẩn và quy hoạch truyền tải - đúng như hướng đi mà Đức, Đan Mạch, Hà Lan đã chọn...