Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đã ký Quyết định số 04/QĐ-HĐĐHTTTC ngày 22/7/2026 phê duyệt Kế hoạch phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam đến năm 2035. Trong bối cảnh đó, cuộc cạnh tranh với các trung tâm tài chính lớn trong khu vực và trên thế giới đặt ra yêu cầu mới về công nghệ, thể chế và năng lực vận hành. Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Nguyễn Gia Như, Phó Giám đốc Đại học Duy Tân về vấn đề này.
PGS.TS Nguyễn Gia Như, Phó Giám đốc Đại học Duy Tân. Ảnh: NVCC
Công nghệ "mở đường" cho tài chính số
- Thưa ông, dưới góc độ công nghệ, ông đánh giá thế nào về mục tiêu xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh các trung tâm tài chính hàng đầu thế giới tại Singapore hay Dubai đều đang cạnh tranh bằng nền tảng công nghệ số, Fintech và trí tuệ nhân tạo (AI)?
PGS.TS Nguyễn Gia Như: Trung tâm tài chính quốc tế của thế kỷ XXI về bản chất là một nền tảng công nghệ. Sức mạnh của nó ngày nay không còn đo bằng số lượng ngân hàng hay vị trí địa lý, mà bằng hạ tầng số, năng lực xử lý dữ liệu và độ tin cậy của hệ thống giao dịch, thanh toán. Singapore vươn lên nhóm dẫn đầu nhờ cơ chế sandbox, hạ tầng API mở và các dự án token hóa tài sản. Dubai thành lập hẳn cơ quan quản lý tài sản ảo chuyên trách. Cuộc đua giữa các trung tâm tài chính hiện nay thực chất là cuộc đua về thể chế số và công nghệ.
Trong bối cảnh đó, mục tiêu vào nhóm 75 trung tâm tài chính hàng đầu thế giới, nhóm 25 châu Á - Thái Bình Dương và nhóm 3 ASEAN theo Chỉ số GFCI là tham vọng nhưng có cơ sở, nếu chúng ta đi thẳng vào tài chính số. Việt Nam là nước đi sau và đi sau chính là lợi thế. Chúng ta sẽ không bị gánh nặng bởi các hệ thống lõi vận hành 30 - 40 năm như London hay New York, ta có thể xây một trung tâm "cloud-native", số hóa ngay từ đầu, tích hợp AI và dữ liệu lớn vào hạ tầng. Cộng với lực lượng kỹ sư trẻ dồi dào, tỷ lệ chấp nhận thanh toán số cao và quyết tâm chính trị rõ ràng, thách thức lớn nhất không nằm ở công nghệ mà ở tốc độ hoàn thiện thể chế và năng lực vận hành đạt chuẩn quốc tế.
- Theo ông, các công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn (Big Data) và blockchain sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc giúp Trung tâm tài chính quốc tế huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính?
PGS.TS Nguyễn Gia Như: Ba công nghệ này giải quyết ba nút thắt kinh điển của thị trường tài chính: bất cân xứng thông tin, chi phí giao dịch cao và niềm tin. AI thay đổi căn bản cách vốn được định giá và phân bổ: chấm điểm tín dụng bằng học máy (công nghệ giúp máy tính tự phân tích dữ liệu) mở rộng diện tiếp cận vốn cho hàng triệu doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn chiếm trên 97% doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời là công cụ quản trị rủi ro thời gian thực trong chống rửa tiền và cảnh báo thanh khoản.
Dữ liệu lớn là "hạ tầng mềm" của trung tâm tài chính: thị trường chỉ phân bổ vốn hiệu quả khi giá cả phản ánh đúng thông tin và các công cụ giám sát SupTech, RegTech giúp cơ quan quản lý theo dõi thị trường liên tục thay vì hậu kiểm định kỳ, điểm nhà đầu tư quốc tế đánh giá rất cao. Blockchain đóng góp lớn nhất qua token hóa tài sản thực, chia nhỏ bất động sản, trái phiếu hạ tầng, tín chỉ carbon thành các phần sở hữu giao dịch được 24/7 và rút ngắn chu trình thanh toán quyết toán, khơi thông những nguồn vốn đang "đóng băng".
Điều quan trọng là phải thiết kế ba công nghệ như một chỉnh thể: dữ liệu lớn là nguyên liệu, AI là bộ não phân tích, blockchain là tầng niềm tin và thực thi. Nếu sớm có khung thử nghiệm cho trái phiếu xanh token hóa gắn với định hướng tài chính xanh của kế hoạch, Việt Nam sẽ có sản phẩm khác biệt để cạnh tranh trong khu vực chứ không chỉ đi theo sau.
- Ông kỳ vọng Trung tâm tài chính quốc tế sẽ tạo ra những đột phá gì cho hệ sinh thái Fintech, ngân hàng số và ứng dụng AI trong lĩnh vực tài chính của Việt Nam thời gian tới?
PGS.TS Nguyễn Gia Như: Tôi kỳ vọng bốn đột phá.
Một là đột phá về thể chế, rào cản lớn nhất của fintech Việt Nam lâu nay là khoảng trống pháp lý. Trung tâm tài chính với cơ chế đặc thù được Quốc hội thông qua chính là nơi các sandbox vận hành bài bản, doanh nghiệp thử nghiệm trong phạm vi kiểm soát, mô hình hiệu quả có đường ra khung pháp lý chính thức.
Hai là đột phá về dòng vốn và chuẩn mực. Sự hiện diện của các định chế quốc tế vừa bổ sung vốn giai đoạn tăng trưởng cho startup, vừa buộc họ trưởng thành theo chuẩn quản trị và an ninh toàn cầu.
Ba là đột phá ngân hàng số với mô hình ngân hàng mở, hạ tầng API chuẩn hóa, ngân hàng thuần số và tài chính nhúng trong thương mại điện tử, logistics, nông nghiệp số.
Bốn là đột phá về AI, trong 5 - 7 năm tới, các phòng thí nghiệm chung giữa ngân hàng, trường đại học và doanh nghiệp công nghệ sẽ phát triển các mô hình AI cho tiếng Việt và dữ liệu thị trường Việt Nam.
Đặc biệt, với mô hình một trung tâm đặt tại hai thành phố, Đà Nẵng có cơ hội trở thành "phòng thí nghiệm fintech và tài chính xanh" của cả nước trước khi nhân rộng ở quy mô Thành phố Hồ Chí Minh, sự phân vai bổ trợ này là điểm độc đáo của mô hình Việt Nam.
Nhân lực và niềm tin là nền tảng
- Dưới góc nhìn của Đại học Duy Tân, trường có thế mạnh về đào tạo công nghệ thông tin, việc phát triển Trung tâm tài chính quốc tế đặt ra thách thức và cơ hội gì cho công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao ở các lĩnh vực liên ngành như Fintech, khoa học dữ liệu và AI ứng dụng trong tài chính, nhằm đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, thưa ông?
PGS.TS Nguyễn Gia Như: Mọi trung tâm tài chính suy cho cùng đều là câu chuyện con người và nhân lực là yếu tố có độ trễ lớn nhất: hạ tầng xây được trong 3 - 5 năm, nhưng một thế hệ chuyên gia tài chính công nghệ đạt chuẩn quốc tế cần cả thập kỷ. Kế hoạch đặt mốc 2035, nghĩa là sinh viên nhập học năm nay chính là lực lượng nòng cốt khi trung tâm vận hành đầy đủ.
Trung tâm tài chính quốc tế cần đào tạo một thế hệ chuyên gia tài chính công nghệ.
Thách thức lớn nhất là tính liên ngành. Nhân lực fintech (công nghệ tài chính) phải tư duy được bằng cả hai ngôn ngữ công nghệ và tài chính nên không thể đào tạo kiểu 'ghép cơ học' hai chương trình mà phải thiết kế lại từ gốc theo bài toán thực của ngành. Kế đến là chuẩn quốc tế về tiếng Anh chuyên ngành, các chứng chỉ nghề nghiệp toàn cầu như CFA, FRM và áp lực giữ giảng viên giỏi trước sức hút đãi ngộ của chính các doanh nghiệp trong trung tâm.
Nhưng cơ hội lớn hơn thách thức, nhất là với các trường tại Đà Nẵng, một trong hai địa điểm của Trung tâm, lần đầu tiên sinh viên miền Trung có thể thực tập và khởi nghiệp trong hệ sinh thái tài chính quốc tế ngay tại nơi mình học.
Đại học Duy Tân xác định 4 hướng đi chiến lược nhằm giải bài toán nhân lực. Trước hết là xây dựng chương trình liên ngành thực thụ về Fintech, Khoa học dữ liệu và AI trong tài chính với sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ khâu thiết kế. Bên cạnh mô hình "phòng thí nghiệm mở" giúp đưa bài toán thực tế vào giảng đường, trường đẩy mạnh hợp tác quốc tế về chương trình và chứng chỉ, đồng thời chú trọng đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động hiện hữu trong ngành tài chính - ngân hàng. Nếu phối hợp tốt theo mô hình ba nhà, nhân lực sẽ không phải điểm nghẽn mà trở thành lợi thế cạnh tranh bền vững nhất của Việt Nam.
- Theo ông, vấn đề an ninh mạng, bảo mật dữ liệu và khung pháp lý cho tài sản số cần được chuẩn bị như thế nào để Trung tâm tài chính quốc tế của Việt Nam tạo được niềm tin với nhà đầu tư quốc tế?
PGS.TS Nguyễn Gia Như: Trong tài chính, sản phẩm thực sự được bán ra là niềm tin, và trong tài chính số, niềm tin ấy được xây dựng từ ba trụ cột chính.
Trước hết, về an ninh mạng, một trung tâm tài chính quốc tế mặc nhiên là mục tiêu tấn công hàng đầu. Do đó, an ninh phải là nguyên tắc thiết kế ngay từ đầu: triển khai kiến trúc Zero-trust, Trung tâm điều hành an ninh giám sát 24/7, diễn tập ứng phó định kỳ và bắt buộc tuân thủ các chuẩn quốc tế như ISO 27001, PCI DSS bởi nhà đầu tư sẽ thẩm định trung tâm tài chính bằng chính các chuẩn mực này.
Về bảo mật dữ liệu, chìa khóa là sự cân bằng giữa bảo vệ và lưu chuyển. Cần thực thi nhất quán quy định về dữ liệu cá nhân, đồng thời thiết lập cơ chế rõ ràng cho dòng dữ liệu xuyên biên giới, "huyết mạch" của mọi trung tâm tài chính tiệm cận các thông lệ quốc tế như GDPR.
Về khung pháp lý cho tài sản số, đây là phép thử quan trọng nhất với niềm tin nhà đầu tư. Việt Nam đã có nền móng khi pháp luật chính thức ghi nhận tài sản số là một loại tài sản. Bước tiếp theo là cụ thể hóa trong Trung tâm tài chính: cấp phép sàn giao dịch và tổ chức lưu ký với yêu cầu tách bạch tài sản khách hàng, quy định về stablecoin và token hóa tài sản thực, tuân thủ đầy đủ chuẩn mực chống rửa tiền của FATF.
Theo PGS.TS Nguyễn Gia Như, kinh nghiệm từ Singapore và Dubai cho thấy, minh bạch và nhất quán rất quan trọng. Nhà đầu tư quốc tế không tìm nơi không có luật, họ tìm nơi luật rõ ràng, ổn định và được thực thi công bằng. Làm được điều đó trong 2 - 3 năm tới, đó sẽ là lời mời gọi thuyết phục nhất gửi tới dòng vốn toàn cầu.