Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không...” - lời căn dặn ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là thông điệp gửi cho thế hệ trẻ, mà còn là chuẩn mực tư tưởng để mỗi giai đoạn phát triển, đất nước tự soi chiếu mình.
Mùa xuân này, bước vào kỷ nguyên mới, chúng ta hãy cùng ôn cố tri tân bằng câu hỏi: “Nước Việt Nam ta lớn hay nhỏ?” và tìm lời giải bài toán định vị quốc gia trong trật tự kinh tế - chính trị toàn cầu đang biến động sâu sắc.
Từ bài báo Bộ trưởng viết trên máy bay…
Chiều cuối năm Ất Tỵ, trước thềm tết Nguyên đán Bính Ngọ gợi cho tôi bao cảm xúc. Là một nhà báo kinh tế, trong năm qua vinh dự được tháp tùng lãnh đạo Bộ Công Thương trong 4 chuyến công tác tới Hoa Kỳ, tôi chợt thấy bâng khuâng xen lẫn tự hào khi nghĩ về những dòng chảy thương mại giữa hai nước.
Mới ngày hôm qua, mùa xuân của 25 năm trước, sau khi cố Bộ trưởng Bộ Thương mại Vũ Khoan sang Mỹ ký Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ lần đầu tiên giữa hai nước, tâm trạng của Bộ trưởng khi ấy còn ngổn ngang trăn trở, khát vọng không biết bao giờ hàng hóa Việt Nam tới được thị trường to lớn này.
Trở về Việt Nam, ngồi trên máy bay, vị Bộ trưởng tâm huyết đã cảm xúc viết một bài báo với nhiều cảm nhận sâu sắc về nền thương mại hai nước và vị thế kinh tế của Việt Nam. Bài viết sau đó in trên Báo Thương mại, cơ quan ngôn luận của Bộ Thương mại ngày 21/7/2000.
Bài báo ấy, 26 năm đọc lại vẫn gợi cho chúng ta rất nhiều cảm xúc về cơ đồ của Việt Nam nếu so sánh với hôm nay, có đoạn: “Tôi sang Mỹ vào dịp hai nước ký Hiệp định thương mại nên mới nảy sinh vài ba suy nghĩ qua những sự cảm nhận nói trên. Thứ nhất, thị trường Mỹ thật rộng lớn, sức mua thật kinh khủng (theo con số chính thức thì mỗi năm nhập khẩu trên 1.000 tỷ USD). Thứ hai, nhu cầu của họ rất đa dạng do có đủ giống người, giai tầng xã hội, hoạt động của họ rất phong phú vào các trung tâm thương mại có thể thấy thượng vàng hạ cám, cái gì cũng có để phục vụ cho nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, vui chơi. Thứ ba, thiên hạ từ năm châu bốn biển đã đổ xô vào đây tiêu thụ hàng hóa, ta vào sau sẽ phải chen lấn rất vất vả. Bí quyết cơ bản là nắm bắt cho được nhu cầu của họ, kể cả mẫu mã hợp gu người Mỹ, các luật lệ là thứ ở Mỹ rất tôn trọng và khá rắc rối, trên cơ sở đó sản xuất hàng tốt, rẻ, giao nhận đúng cam kết, giữ cho được chữ tín. Nếu được vậy thì ta hoàn toàn có thể len vào đây, xác định được chỗ đứng, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân ở nước ta”. …
Đến những dòng chảy tỷ đô xuất khẩu
Năm 1989, 3 năm sau Đại hội của Đổi mới, Việt Nam lần đầu tiên vượt mốc 1 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu. Trong bối cảnh nền kinh tế vừa rời bỏ cơ chế bao cấp, sản xuất còn manh mún, quan hệ kinh tế đối ngoại hạn hẹp, con số ấy mang ý nghĩa vượt xa giá trị tuyệt đối khi Việt Nam bắt đầu bước ra thị trường thế giới bằng hàng hóa của chính mình, dù còn nhỏ bé và chủ yếu dựa vào nông sản, khoáng sản thô. Đặt mốc năm 1989 vào mối tương quan quốc tế, Việt Nam còn ở rất xa so với các nền kinh tế trong khu vực; xuất khẩu của Thái Lan, Malaysia đã cao gấp Việt Nam 25 - 30 lần, Nhật Bản thì cao gấp hàng trăm lần.
Giờ đây, bức tranh đã thay đổi mà có lẽ cố Bộ trưởng Vũ Khoan cũng không thể hình dung. Sự thay đổi ấy ngoài tăng về lượng, còn chuyển dịch về chất. Việt Nam đã hình thành các cụm sản xuất lớn, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thương mại không còn là “phần ngọn” mà trở thành một trụ cột của tăng trưởng, kéo theo công nghiệp, logistics, dịch vụ và thị trường trong nước cùng phát triển.
Việt Nam không còn là “nước nhỏ”
Trong nhiều chuyến công tác tháp tùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên (nay là Phó Bí thư Đảng ủy Quốc hội), tôi ấn tượng trước sự đón tiếp, trân trọng của nguyên thủ nhiều cường quốc với các nhà lãnh đạo Việt Nam; của Bộ trưởng Kinh tế các cường quốc với Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam. Trên một số diễn đàn báo chí gần đây, có đồng chí Bộ trưởng đã từng nói đại ý: “Việt Nam ngày nay không còn là một nước nhỏ nữa”. Tôi nghĩ, đó là một ý kiến thú vị và đúng nếu nhìn toàn diện về cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước hôm nay.

Năm 2025, GDP danh nghĩa của Việt Nam vượt 500 tỷ USD, xếp khoảng thứ 32 thế giới; kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 930,06 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 475 tỷ USD, cao gấp gần 500 lần sau hơn 35 năm đạt 1 tỷ USD xuất khẩu đầu tiên.

So sánh trong ASEAN cho thấy, Việt Nam đã thoát khỏi vị trí nền kinh tế “theo sau”, tiến gần nhóm dẫn đầu, vươn lên vị trí thứ 4 ASEAN, sau Indonesia, Thái Lan, Singapore và có thể lên Top 3 trong một thời gian không xa.

Sự lớn lên về kinh tế kéo theo sự thay đổi về vị thế quốc tế. Chưa đề cập đến các yếu tố quan trọng khác như sức mạnh quân sự, vị thế chính trị, ngoại giao, quan hệ chiến lược mà chỉ nhìn ở góc độ kinh tế xã hội, nhất là lĩnh vực công nghiệp và thương mại, có thể thấy rõ hình ảnh Việt Nam hôm nay.
Sánh vai các cường quốc năm châu
Quay lại lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, điều cốt lõi không nằm ở chữ “cường quốc” mà nằm ở chữ “sánh vai”. Sánh vai là bình đẳng về phẩm giá, là khả năng tự quyết và đóng góp, chứ không phải chạy theo hình mẫu quyền lực của bất kỳ ai. Nếu lấy các thước đo hiện đại có thể thấy, Việt Nam đang tiệm cận từng lớp của khái niệm ấy: quy mô kinh tế tăng nhanh, hội nhập sâu, vị thế quốc tế ngày càng rõ, vai trò khu vực ngày càng được thừa nhận.

Lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Ảnh: baochinhphu.vn
Từ mốc 1 tỷ USD xuất khẩu năm 1989 đến nền kinh tế hơn 500 tỷ USD GDP và gần 1.000 tỷ USD thương mại hôm nay, Việt Nam đã đi một chặng đường dài chưa từng có trong lịch sử hiện đại. Đất nước ta không còn là một quốc gia nhỏ bé trên bản đồ kinh tế thế giới. Nhưng, để thực sự “sánh vai các cường quốc năm châu” như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong mỏi, Việt Nam cần tiếp tục lớn lên không chỉ về quy mô, mà còn về chất lượng phát triển, năng lực quản trị và chiều sâu con người. Những con số ấy càng có ý nghĩa nếu nhìn lại ở khía cạnh hoà bình và phát triển của đất nước.
Trong lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc, nếu tính từ năm 938 Ngô Quyền tuyên bố nền độc lập đầu tiên đến nay, lịch sử dân tộc ta trải qua 1087 năm thì chưa đến 500 năm được sống trong hoà bình; trong 100 năm qua chỉ có hơn 30 năm đất nước yên tiếng súng. Số thời gian được sống trong hòa bình của chúng ta thấp hơn hầu hết các nước trên thế giới: Mỹ, Hàn, Nhật 63 - 74%; Pháp 80%. Chúng ta mới chỉ có hơn 30 năm sống trong hoà bình thực sự và tập trung cao độ cho phát triển đất nước. So với Hàn Quốc (70 năm), Singapore (60 năm), Việt Nam đi sau 1 - 2 thế hệ phát triển, nhưng lại thuộc nhóm tăng trưởng nhanh nhất thế giới 3 thập niên gần đây và được IMF, WB đánh giá là hình mẫu phát triển.
Ngành Công Thương của chúng ta mấy chục năm qua là đầu tàu, là rường cột đóng góp cho sự phát triển đó. Từ Bộ Quốc dân Kinh tế được Bác Hồ đặt tên trong những ngày đầu lập quốc đến hôm nay, chúng ta tự hào với truyền thống phụng sự và đang tiếp tục được hun đúc, phát huy bằng chủ trương xây dựng Văn hóa công vụ ngành Công Thương do người đứng đầu ngành khởi xướng.
Lớn lên là thành tựu. Lớn lên một cách bền vững và có trách nhiệm là thước đo cuối cùng của tầm vóc quốc gia.




