Tôi đã từng có dịp ghé Mai Châu, thăm nhà thơ Lò Cao Nhum và đọc những vần thơ của ông trên trang Blog cá nhân lấy tên “Rượu núi”. Đây cũng là một bài thơ mà ông rất tâm đắc lúc còn sống.
Rượu núi
“Bạn đến
Mời ngồi xếp bằng tròn giữa chiếu
Chiếu đan bằng tia mặt trời
Bát rượu trăng rằm
Mong hồn vía bạn đừng thất lạc
Cầu cụ ông, cụ bà, cây si, cây đa
Gái bản nụ hoa, trai mường cây nghiến
Ngửa bàn tay cũng da
Úp bàn tay cũng thịt…”
Vậy thì đâu còn xa lạ nữa, dù bạn là người Thái, người Mường, người Mông, người Kinh hay dân tộc nào đi nữa bàn tay cũng da cũng thịt như nhau cả thôi.

Có thể nói, chỉ bằng một bài thơ Rượu núi, Lò Cao Nhum đã xóa nhòa khoảng cách về sắc tộc, sự giàu nghèo, gần xa, cũ mới… Đấy là cái khéo riêng có của nhà thơ, ấy còn là văn hóa ứng xử của người Thái và một số dân tộc thiểu số vùng cao…
Cũng như các nhà thơ người dân tộc thiểu số khác, ở nhà thơ Lò Cao Nhum, yếu tố dân tộc bản địa rất rõ. Tất nhiên, mỗi dân tộc thiểu số vùng cao, bản sắc văn hóa khác nhau đôi chút, song tựu trung, văn hóa ứng xử lại khá giống nhau, ấy là sự hiếu khách và lòng tin ở con người. Đặc biệt, nét văn hóa của người miền núi đồng rừng, tục “bắt vợ” cũng được Lò Cao Nhum thi vị hóa. Hay văn hóa ứng xử của người Thái, người Mường vốn tinh tế, đi vào thơ của tác giả Lò Cao Nhum lại càng trở nên tinh tế hơn. Chuyện gia đình, có khéo ăn ở bao nhiêu cũng chẳng thể tránh được những giận hờn, sứt mẻ. Nhưng với Lò Cao Nhum những lúc thế này:
Hơi tí em bỏ về bên ngoại
Làm cơm canh, ấm chén rối lên
Bậu cửa vào vấp chân
Khung cửa ra đụng trán
Thương cái bếp nguội lạnh…
Những tưởng chỉ vui bàn chuyện văn hóa dân tộc, ứng xử cộng đồng làng bản, gia đình vậy thôi, chứ thực ra, nhà thơ cũng thích bàn chuyện thế sự. Hãy xem Lò Cao Nhum bàn chuyện thế sự ra sao:
Họ bảo tôi đi đường ngược chiều
Bị phạt là điều cầm chắc
Chợt hiểu đấy là phép tắc
Giống bản mình giăng bủa Ta leo…
Ngôi nhà ta có nóc, có sàn
Làm người không thể không phép tắc
Phép tắc không thể không chòi gác
Cuộc đời có ngã ba, ngã bảy
Trong ta có đèn đỏ hay không
(Ngược chiều).
Vậy thì lệ làng, phép nước cũng nhìn nhận từ bản thân mình mà ra. Bố bản hay ai cũng thế cả thôi, cứ phải khép mình mà tuân thủ suy ra phép công, xã hội mới có trật tự chứ!
Quả thật, đọc thơ Lò Cao Nhum, những khi bắt gặp ông triết lý, tôi cứ cười thầm, nghĩ bụng và hình dung, khi viết ra những câu thơ mang tính triết luận như vậy, hẳn nhà thơ nhẩm bụng hay lẩm bẩm một mình: “Này, đừng có nghĩ là người vùng cao chúng tớ ai cũng thật thà như đếm đâu nhớ!?”
Nhớ về Lò Cao Nhum, không thể không nhớ đến bài thơ “Rượu núi” của ông. Nhưng Lò Cao Nhum còn có những bài thơ khác, ta không thể bỏ qua để thêm phần rõ triết lý về nguồn cội sắc tộc, dấu ấn văn hóa bản địa, chất Thái Mường hòa quyện nhuần nhị trong con người và thơ ca của Lò Cao Nhum:
Nhận ra anh em
Nhận ra họ hàng
Nhận ra đồng tộc
Khi nóc nhà có hoa khau cút
Đấy là tín hiệu vui
Tín hiệu máu mủ
Anh có thể cởi dé
Rửa chân lên thang
Tìm chỗ ngồi của mình nơi góc chiếu…
Rồi anh ra đi
Ngoái nhìn ngọn hoa mưa nắng
Thơm thảo nơi mái lá nhà sàn
Văng vẳng níu chân lời hát
Người ta chỉ muốn gần nhau thôi
(Nóc nhà ta có hoa khau cút).
Vậy đấy, văn hóa bản địa, sắc tộc tháng ngày lẽo đẽo theo chân nhà thơ mang dấu ấn đời sống thường nhật, từ nét hoa văn nhà sàn, chuyện cha ông khai sơn lập bản, nét ẩm thực bát rượu nắm xôi, đến phong tục chợ phiên chợ tình… với Lò Cao Nhum hòa quyện, chung đúc thành thơ mà nên giọng điệu của riêng ông. Lò Cao Nhum ít nhiều góp phần công sức làm phong phú văn hóa dân tộc mình.

Những ai, đã ít nhất một lần, như tôi từng nâng bát rượu núi ngồi khoanh chân nơi sàn nhà Lò Cao Nhum ở Bản Lác, hãy thêm lần nâng bát rượu núi trên tay, bởi Lò Cao Nhum đã mời:
Rượu nhà tôi
Rượu buộc chỉ cổ tay
Thắp lửa tình chiêng, tình trống
Đã uống vắt kiệt chum mà uống
Đã say đổ tràn tình mà say
Nào bạn ơi
Cụng bát cùng rẻo cao muôn đời
Chụm bền ngọn núi
Giữa chiếu đan bằng tia mặt trời…
Giờ đây, “rượu núi ai rót mà say?”




