Tăng cường kết nối hợp tác xanh, số và công nghệ cao
Trong những năm qua, cùng với việc củng cố và làm sâu sắc quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, Việt Nam và Pháp không ngừng mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư. Trong tiến trình đó, ngoại giao kinh tế ngày càng khẳng định vai trò là cầu nối quan trọng, góp phần đưa các định hướng, thỏa thuận và cam kết giữa hai nước đi vào thực tiễn, hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy kết nối địa phương và mở rộng không gian hợp tác giữa hai nền kinh tế.
Năm 2026 là năm quan trọng trong triển khai các định hướng lớn của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Pháp và hiện thực hóa Kế hoạch hành động giai đoạn mới.
Đại sứ Việt Nam tại Pháp Trịnh Đức Hải cho biết, trong 6 tháng đầu năm, Đại sứ quán đã tập trung thúc đẩy các dự án hợp tác chiến lược, hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương tiếp cận công nghệ tiên tiến, nguồn vốn và kinh nghiệm phát triển của Pháp, đồng thời quảng bá Việt Nam như một trung tâm tăng trưởng năng động và là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Cộng hòa Pháp Trịnh Đức Hải (bên trái) trình Quốc thư lên Tổng thống Pháp Emmanuel Macron.
Đại sứ quán chủ động tăng cường tiếp xúc, làm việc với phía Pháp, tập trung thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác mang tính chiến lược như chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển công nghiệp nền tảng, hạ tầng hiện đại.
Trong đó, năng lượng và chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, công nghệ cao là những nội dung được Đại sứ quán quan tâm trong quá trình kết nối với các đối tác Pháp. Đại sứ quán đã tiếp xúc và làm việc với các tập đoàn kinh tế lớn trong các lĩnh vực hạ tầng và vận tải đường sắt, công nghệ cao, công nghiệp quốc phòng và hàng không - vũ trụ, năng lượng, chuyển đổi số, tài chính - ngân hàng cùng nhiều đối tác chiến lược khác, các tổ chức xúc tiến thương mại, hiệp hội doanh nghiệp và mạng lưới doanh nghiệp hàng đầu của Pháp.
Trọng tâm là vận động, kết nối để dòng vốn, công nghệ và năng lực quản trị của Pháp tham gia sâu hơn vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam từng bước nâng cao năng lực tiếp nhận công nghệ và mở rộng hiện diện tại thị trường châu Âu.
Song song với việc thu hút các tập đoàn quy mô lớn, Đại sứ Trịnh Đức Hải cho biết, Đại sứ quán cũng chú trọng mở rộng mạng lưới đối tác tới các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thế mạnh công nghệ và kinh nghiệm chuyên sâu. Ngoài ra, Đại sứ quán phát huy tốt vai trò cầu nối thúc đẩy hợp tác phi tập trung giữa các địa phương, trung tâm kinh tế lớn của Pháp như Bordeaux, Marseille, Normandie, Le Havre với các tỉnh, thành phố của Việt Nam như Đà Nẵng, Hải Phòng, Khánh Hòa, Quảng Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực cảng biển, logistics và đổi mới sáng tạo.
Đồng thời, Đại sứ quán hỗ trợ nhiều đoàn công tác của các bộ, ngành, địa phương Việt Nam sang nghiên cứu kinh nghiệm về quy hoạch đô thị, trung tâm tài chính quốc tế và chuyển đổi xanh. Những hoạt động trên góp phần tăng cường kết nối giữa nhu cầu phát triển của Việt Nam với thế mạnh về công nghệ, tài chính, quản trị, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững của Pháp.
Đẩy mạnh hợp tác năng lượng, công nghệ và hạ tầng chiến lược
Trên cơ sở những kết quả và kết nối đã triển khai, trong thời gian tới, ngoại giao kinh tế tiếp tục là một trọng tâm trong hoạt động của Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, với mục tiêu thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực hạ tầng chiến lược, đường sắt tốc độ cao, năng lượng, công nghiệp quốc phòng, hàng không vũ trụ, trung tâm tài chính quốc tế, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn; đồng thời tiếp tục đồng hành cùng các địa phương và doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập sâu rộng vào thị trường Pháp và EU.
Theo Đại sứ Trịnh Đức Hải, việc tăng cường kết nối với các đối tác Pháp sẽ góp phần thúc đẩy dòng vốn, công nghệ và tri thức tham gia sâu hơn vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực tiếp nhận công nghệ và mở rộng hiện diện tại thị trường châu Âu.
Theo Đại sứ, trong bối cảnh thế giới đồng thời diễn ra ba xu hướng lớn là chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, Việt Nam và Pháp có tính bổ trợ rất cao cho nhau. Việt Nam có lợi thế về quy mô thị trường, tốc độ tăng trưởng, vị trí địa chiến lược tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương và nhu cầu rất lớn về đầu tư phát triển. Trong khi đó, Pháp có thế mạnh hàng đầu về công nghệ, tài chính, quản trị, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững.
Trong các lĩnh vực có khả năng tạo đột phá, Đại sứ Trịnh Đức Hải ưu tiên đề cập tới hạ tầng chiến lược và kết nối giao thông hiện đại. Việt Nam đang bước vào giai đoạn đầu tư hạ tầng với quy mô chưa từng có, từ đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, các tuyến đường sắt đô thị, hệ thống cảng biển, sân bay, logistics đến phát triển đô thị thông minh. Theo Đại sứ, hợp tác giữa hai nước trong giai đoạn tới không nên chỉ dừng ở cung cấp thiết bị hay tư vấn kỹ thuật, mà cần hướng tới mô hình đồng hành toàn diện hơn: cùng quy hoạch, cùng đầu tư, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực vận hành và xây dựng chuỗi giá trị tại chỗ.
Năng lượng và chuyển đổi xanh được Đại sứ đánh giá có thể trở thành trụ cột hợp tác mới giữa hai nước trong thập kỷ tới. Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 và đang triển khai mạnh mẽ quá trình chuyển đổi năng lượng. Trong khi đó, Pháp là một trong những quốc gia đi đầu về công nghệ năng lượng sạch, điện hạt nhân dân sự, điện gió ngoài khơi, lưới điện thông minh, hydrogen xanh, lưu trữ năng lượng và các giải pháp giảm phát thải.
Đại sứ Trịnh Đức Hải nhấn mạnh: “Không chỉ là đầu tư vào các dự án năng lượng, tôi cho rằng tiềm năng lớn hơn nằm ở việc hình thành hệ sinh thái công nghiệp xanh tại Việt Nam: từ sản xuất thiết bị, dịch vụ kỹ thuật, tài chính xanh cho tới thị trường tín chỉ carbon. Đây sẽ là hướng hợp tác mang lại giá trị lâu dài cho cả hai bên.”
Đối với công nghệ cao, chuyển đổi số và công nghiệp tương lai, Đại sứ cho biết, doanh nghiệp và đối tác Pháp đang đặt sự quan tâm ngày càng lớn đối với các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, điện toán đám mây, công nghệ sinh học, y tế số, hàng không - vũ trụ, an ninh mạng và công nghiệp thông minh.
Đại sứ Trịnh Đức Hải khẳng định: “Việt Nam hiện có lợi thế về nguồn nhân lực trẻ, khả năng thích ứng nhanh với công nghệ và quyết tâm xây dựng nền kinh tế số. Tuy nhiên, để đi nhanh hơn, Việt Nam cần đẩy mạnh hợp tác với các đối tác có năng lực công nghệ cao như Pháp nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), đào tạo kỹ sư chất lượng cao và kết nối các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.”
Bên cạnh đó, tài chính quốc tế và các mô hình đầu tư mới cũng được xác định là lĩnh vực có dư địa hợp tác. Nhiều định chế tài chính và nhà đầu tư Pháp đang quan tâm tới định hướng phát triển các trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Đây là cơ hội để mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực tài chính xanh, tài chính hạ tầng, bảo hiểm, quản lý tài sản, fintech và huy động vốn dài hạn cho các dự án chiến lược.
Trong khi đó, giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học tiếp tục được Đại sứ đánh giá là nền tảng của hợp tác dài hạn, bởi chuyển giao công nghệ chỉ thực sự thành công khi đi kèm với chuyển giao tri thức và phát triển con người. Hai bên có thể mở rộng sang các lĩnh vực đào tạo nhân lực cho AI, bán dẫn, năng lượng xanh, công nghệ hàng không - vũ trụ, quản trị công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đại sứ Trịnh Đức Hải chia sẻ, trong giai đoạn mới, nhà đầu tư Pháp không còn chỉ tìm kiếm lợi thế chi phí hay ưu đãi đầu tư. Điều họ quan tâm nhiều hơn là chất lượng thể chế, chất lượng nguồn nhân lực, khả năng đổi mới sáng tạo và mức độ kết nối của Việt Nam với các hệ sinh thái công nghệ toàn cầu.
“Nếu chuẩn bị tốt những điều kiện đó, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành điểm đến ưu tiên của dòng vốn, công nghệ và tri thức chất lượng cao từ Pháp trong những năm tới”, Đại sứ Trịnh Đức Hải nhấn mạnh.
Trong bối cảnh mới, việc tiếp tục phát huy vai trò cầu nối của ngoại giao kinh tế sẽ góp phần đưa các tiềm năng hợp tác Việt Nam - Pháp thành những dự án, chương trình cụ thể, đồng thời mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp, địa phương vào các chuỗi giá trị mới. Đây cũng là cơ sở để hai nước thúc đẩy mạnh hơn hợp tác về chuyển đổi xanh, công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và hạ tầng chiến lược trong thời gian tới.