Việc Chính phủ ban hành Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 03/4/2026, thông qua chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm cho thấy động thái về mặt thể chế, mang ý nghĩa định hướng lại cấu trúc phát triển công nghiệp Việt Nam trong giai đoạn mới.
Khi công nghiệp tiếp tục được xác định là trụ cột của nền kinh tế, yêu cầu đặt ra không chỉ là tăng trưởng mà còn là nâng cấp chất lượng, nâng cao tính tự chủ và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nghị quyết số 82/NQ-CP ngày 03/4/2026, thông qua chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm tạo bản lề để có một đạo luật hoàn chỉnh đối với ngành Công nghiệp. Ảnh: VGP
Kiến tạo khung chính sách để xử lý điểm nghẽn phát triển công nghiệp
Nghị quyết 82/NQ-CP thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Chính phủ về sự cần thiết xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm nhằm thể chế hóa chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Điểm đáng chú ý là định hướng chuyển dịch mô hình phát triển công nghiệp từ chiều rộng sang chiều sâu, từ gia công, lắp ráp sang nghiên cứu, thiết kế và sản xuất có hàm lượng công nghệ cao.
Chính phủ cơ bản thống nhất nội dung 2 chính sách do Bộ Công Thương đề xuất, bao gồm khuyến khích sản xuất, chế tạo trong nước các sản phẩm công nghiệp trọng điểm và phát triển công nghiệp hỗ trợ.
Điều này cho thấy chính sách đã nhận diện đúng những khâu then chốt cần ưu tiên tháo gỡ để thúc đẩy công nghiệp phát triển bền vững hơn. Trong đó, việc từng bước hoàn thiện hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, đồng thời tận dụng hiệu quả hơn các ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do.
Theo số liệu của Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), năm 2025, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 24,5% GDP, tạo nền tảng quan trọng cho tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu nâng tỷ trọng này lên khoảng 28% vào năm 2030 được đánh giá là hoàn toàn khả thi nếu có những chính sách đủ mạnh và kịp thời.
Dư địa phát triển của ngành vẫn còn rất lớn, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục thu hút đầu tư, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Những vấn đề như phụ thuộc nguyên liệu nhập khẩu, hạn chế về công nghệ hay liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI đang dần được nhận diện rõ và trở thành trọng tâm để cải cách, từ đó mở ra cơ hội nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của ngành trong giai đoạn tới.
Chính vì vậy, việc thiết kế Luật Công nghiệp trọng điểm lần này hướng tới giải quyết các điểm nghẽn cơ bản, từ cơ chế ưu đãi sản xuất trong nước, thúc đẩy nội địa hóa, đến việc xây dựng tiêu chí rõ ràng về tỷ lệ nội địa hóa để làm căn cứ hỗ trợ doanh nghiệp. Đây là yếu tố quan trọng để đáp ứng các quy tắc xuất xứ trong thương mại quốc tế, từ đó giúp hàng hóa Việt Nam không chỉ thâm nhập mà còn đứng vững trên các thị trường lớn.
Một điểm nhấn khác trong định hướng chính sách là yêu cầu gắn phát triển công nghiệp với khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điều này cho thấy cách tiếp cận không còn dừng ở mở rộng quy mô sản xuất mà tập trung vào nâng cao giá trị gia tăng. Khi chuỗi giá trị toàn cầu ngày càng tái cấu trúc, lợi thế lao động giá rẻ không còn đủ, việc nâng cấp công nghệ trở thành điều kiện bắt buộc.
Song song đó, Chính phủ cũng đặt ra yêu cầu rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, tránh chồng chéo. Đây là vấn đề từng gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp khi các quy định về đầu tư, môi trường, khoa học công nghệ chưa được kết nối hiệu quả. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cắt giảm thủ tục hành chính và thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý nhà nước được kỳ vọng sẽ tạo môi trường thuận lợi hơn cho phát triển công nghiệp.
Hướng tới nền công nghiệp tự chủ
Một trong những nội dung quan trọng của chính sách là xây dựng cơ chế thu hút và quản lý FDI theo hướng có chọn lọc. Thay vì ưu tiên số lượng, các dự án đầu tư nước ngoài sẽ được sàng lọc dựa trên tiêu chí công nghệ cao, khả năng lan tỏa và mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước. Đây là bước chuyển cần thiết nhằm tránh tình trạng “lắp ráp đơn thuần” kéo dài, đồng thời nâng cao năng lực sản xuất quốc gia.
Việc gắn yêu cầu chuyển giao công nghệ với thu hút FDI cũng cho thấy định hướng rõ ràng trong việc tận dụng nguồn lực bên ngoài để phát triển nội lực. Nếu được triển khai hiệu quả, chính sách này có thể tạo ra sự kết nối thực chất giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội địa - điều còn thiếu trong nhiều năm qua.
Ở góc độ chuyên gia, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương nhấn mạnh: công nghiệp là nền tảng cốt lõi của nền kinh tế, giữ vai trò trung tâm trong cấu trúc tăng trưởng. Thời gian qua, ngành công nghiệp đã đóng góp tích cực vào xuất khẩu và tiêu dùng, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế.

Ông Nguyễn Văn Hội, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương
Để tiến nhanh hơn tới mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách theo hướng đồng bộ, cùng với xây dựng một đạo luật mang tính tổng thể, toàn diện cho lĩnh vực công nghiệp, sẽ mở ra dư địa mới, giúp khai thác hiệu quả hơn các tiềm năng và nâng cao chất lượng tăng trưởng.
Từ thực tiễn đó, việc xây dựng Luật Công nghiệp trọng điểm được xem là bước đi cần thiết, nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải bảo đảm tính liên kết với các luật liên quan. Một đạo luật riêng lẻ sẽ khó phát huy hiệu quả nếu không đi kèm với việc điều chỉnh đồng bộ các quy định về đầu tư, môi trường, khoa học công nghệ và thương mại.
Đáng chú ý, đề xuất xây dựng quy hoạch công nghiệp theo chuỗi giá trị, gắn kết giữa các ngành, vùng và địa phương, phản ánh một tư duy phát triển mới. Thay vì phát triển dàn trải, công nghiệp cần được tổ chức theo các cụm liên kết, nơi doanh nghiệp có thể tận dụng lợi thế quy mô, chia sẻ hạ tầng và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Việc xác định các ngành công nghiệp nền tảng như năng lượng, điện lực cũng là yếu tố then chốt. Đây không chỉ là lĩnh vực cung cấp đầu vào cho sản xuất mà còn quyết định khả năng phát triển của toàn bộ hệ thống công nghiệp. Bên cạnh đó, phát triển các ngành theo chuỗi giá trị, như ngành sữa hay các ngành chế biến nông sản, có thể tạo ra sự lan tỏa mạnh mẽ, vừa giảm nhập khẩu, vừa nâng cao giá trị nội địa.
"Mục tiêu tăng trưởng công nghiệp khoảng 10 - 11%/năm được đánh giá là hợp lý, nhưng để đạt được, cần một hệ sinh thái chính sách đủ mạnh và nhất quán. Điều này bao gồm cả việc hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực công nghệ, tiếp cận tài chính, mở rộng thị trường và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu", ông Nguyễn Văn Hội nhận định
Chính sách của Luật Công nghiệp trọng điểm không chỉ nhằm giải quyết những vấn đề trước mắt mà còn hướng tới xây dựng một nền công nghiệp độc lập, tự chủ và có sức chống chịu cao. Khi các yếu tố bất định của kinh tế toàn cầu ngày càng gia tăng, năng lực nội tại của nền sản xuất trở thành yếu tố quyết định.
Việc Chính phủ sớm hoàn thiện hồ sơ chính sách, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và phù hợp với các cam kết quốc tế, đồng thời tiếp thu đầy đủ ý kiến của các cơ quan của Quốc hội, sẽ là tiền đề quan trọng để Luật Công nghiệp trọng điểm thực sự đi vào cuộc sống. Nếu được thiết kế và triển khai hiệu quả, đạo luật này có thể tạo ra cú hích lớn, giúp công nghiệp Việt Nam chuyển sang giai đoạn phát triển mới, nơi tăng trưởng không chỉ dựa vào quy mô mà dựa vào chất lượng, công nghệ và năng lực cạnh tranh.




