Tổng Bí thư Tô Lâm vừa ký ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước. Nghị quyết khẳng định kinh tế nhà nước là thành phần đặc biệt quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vai trò nòng cốt trong ổn định vĩ mô, điều tiết và dẫn dắt các hoạt động kinh tế.
Sau 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt là gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, kinh tế nhà nước đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia. Tuy nhiên, Bộ Chính trị cũng chỉ rõ, bên cạnh những kết quả đạt được, khu vực kinh tế nhà nước vẫn còn không ít hạn chế, bất cập, hiệu quả sử dụng nguồn lực chưa tương xứng với vai trò và tiềm năng.

Doanh nghiệp nhà nước được tái định nghĩa vai trò trong nền kinh tế.
Trong bối cảnh đất nước hướng tới mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Nghị quyết 79-NQ/TW yêu cầu tập trung quán triệt và triển khai đồng bộ, quyết liệt các chủ trương, chính sách lớn nhằm phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của kinh tế nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.
Mục tiêu rõ ràng, lộ trình cụ thể đến năm 2030 và tầm nhìn 2045
Về mục tiêu cụ thể đến năm 2030, Nghị quyết xác định yêu cầu quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực then chốt của kinh tế nhà nước. Trong đó, đất đai và tài nguyên phải được quản lý, huy động và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững, đồng thời bảo đảm quốc phòng, an ninh, an ninh kinh tế, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đối với tài sản kết cấu hạ tầng, Nghị quyết nhấn mạnh việc phát triển hệ thống hạ tầng chiến lược theo hướng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia có quy mô lớn, bảo đảm kết nối liên vùng, liên tỉnh, kết nối khu vực và quốc tế.
Về ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, mục tiêu giai đoạn 2026 – 2030 là tỷ lệ huy động ngân sách đạt khoảng 18% GDP, bội chi ngân sách khoảng 5% GDP, nợ công không vượt quá 60% GDP. Cơ cấu chi ngân sách tiếp tục được điều chỉnh theo hướng tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển lên khoảng 35 - 40% tổng chi, giảm tỷ trọng chi thường xuyên xuống còn khoảng 50 - 55%. Cùng với đó, phấn đấu đến năm 2030, mức dự trữ quốc gia đạt tối thiểu 1% GDP và rà soát, sắp xếp, nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 50 doanh nghiệp lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 đến 3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Đồng thời, xây dựng một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào các chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, nhất là trong những ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược. Theo lộ trình, 100% doanh nghiệp nhà nước sẽ thực hiện quản trị hiện đại trên nền tảng số và toàn bộ các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng các nguyên tắc quản trị của OECD.
Trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, Nghị quyết đặt mục tiêu phấn đấu có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản, đồng thời phát triển 4 ngân hàng thương mại nhà nước giữ vai trò chủ lực, chủ đạo, đi đầu về công nghệ, năng lực quản trị, quy mô, thị phần và khả năng điều tiết thị trường trong toàn hệ thống.
Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa việc cung ứng dịch vụ công, tinh gọn đầu mối tổ chức, hướng tới chỉ còn các đơn vị thực hiện nhiệm vụ chính trị, quản lý nhà nước và cung ứng những dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu.
Về tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết xác định kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc bảo đảm tự chủ chiến lược, tự cường và nâng cao sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế; được quản trị theo hướng hiện đại, minh bạch, hiệu quả, hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu, cung ứng dịch vụ công chất lượng cao, qua đó khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội. Kinh tế nhà nước cùng các khu vực kinh tế khác góp phần hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Theo định hướng này, đến năm 2045, mức dự trữ quốc gia phấn đấu đạt 2% GDP; khoảng 60 doanh nghiệp nhà nước nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á, trong đó có 5 doanh nghiệp lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; tối thiểu 50% đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên và hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường.
Đổi mới tư duy, quản trị và cơ chế phân bổ nguồn lực
Về các giải pháp tổng thể, Nghị quyết yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; tách bạch rõ ràng chức năng sở hữu, chức năng quản lý kinh tế và việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Đồng thời, xây dựng cơ chế đủ mạnh để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, phân định rõ sai sót khách quan với vi phạm pháp luật nhằm xử lý đúng bản chất. Việc chuẩn hóa, liên thông cơ sở dữ liệu về chủ thể và nguồn lực của kinh tế nhà nước được coi là điều kiện quan trọng phục vụ công tác hoạch định và điều hành chính sách.
Nghị quyết đặt mục tiêu đến hết năm 2026 hoàn thiện công tác đo đạc, thống kê, số hóa và làm sạch hệ thống dữ liệu đất đai trên phạm vi cả nước, bảo đảm kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia khác. Cùng với đó, khuyến khích doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước, đầu tư ra nước ngoài để thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản, nhất là những loại tài nguyên trong nước còn hạn chế về trữ lượng.
Trong phát triển kinh tế biển, Nghị quyết yêu cầu tăng cường điều tra cơ bản, xây dựng hệ thống dữ liệu về tài nguyên biển, đảo; khai thác hiệu quả gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền. Các công trình hạ tầng biển, đảo trọng yếu tiếp tục được ưu tiên đầu tư, đưa kinh tế biển trở thành một cấu phần quan trọng của kinh tế nhà nước. Đồng thời, ban hành cơ chế vượt trội, triển khai các mô hình thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để thúc đẩy kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp và ngành công nghiệp hàng không, vũ trụ.
Nghị quyết cũng khuyến khích huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội và các hình thức hợp tác công - tư trong đầu tư, khai thác công trình ngầm, phát triển trí tuệ nhân tạo, công nghệ số cũng như xây dựng, vận hành hệ thống kết cấu hạ tầng theo các mô hình linh hoạt, hiệu quả.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, Bộ Chính trị cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hóa, thoái vốn để tăng vốn điều lệ; tăng tỷ lệ lợi nhuận sau thuế để lại doanh nghiệp; rà soát, đánh giá lại giá trị tài sản đã khấu hao hết nhưng còn khả năng sử dụng. Doanh nghiệp nhà nước được chủ động sử dụng quỹ phát triển khoa học, công nghệ, hình thành hoặc tham gia các quỹ đầu tư mạo hiểm nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Một định hướng lớn khác là tái cơ cấu toàn diện Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) theo hướng chuyên nghiệp, tiến tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia; đồng thời nâng cao vai trò của VAMC và DATC trong xử lý nợ xấu, hỗ trợ tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp và hệ thống ngân hàng theo cơ chế thị trường.
Nghị quyết của Bộ Chính trị nêu ra hàng loạt nhiệm vụ, giải pháp quan trọng. Trong đó nhiệm vụ, giải pháp chung nêu rõ việc tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy trong lãnh đạo, chỉ đạo; chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại, hành động quyết liệt.
Đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, kịp thời tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt về thể chế; tạo lập môi trường thuận lợi, công bằng, minh bạch; xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ quản lý, lãnh đạo, chuyên gia...
Tiếp tục hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia; chấm dứt tình trạng thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chồng chéo, trùng lặp, kéo dài, không cần thiết...





