Từ chiến lược đến hành động
Trước yêu cầu ngày càng rõ nét về bảo đảm đủ năng lượng cho phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 253/2025/QH15 ngày 11/12/2025 về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030. Nghị quyết thể hiện cách tiếp cận chủ động, linh hoạt trong hoàn thiện thể chế, tháo gỡ những vướng mắc tồn tại lâu nay, đồng thời mở ra không gian và động lực mới để ngành năng lượng phát triển đồng bộ, bền vững, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng, chuyển dịch xanh và củng cố vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.
Liên quan đến Nghị quyết 253, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Nguyễn Huy Hoạch - Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho rằng, Nghị quyết 253 đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong thể chế hoá chiến lược, mục tiêu và định hướng phát triển năng lượng quốc gia.

Hoạt động khai thác dầu khí trên mỏ Đại Hùng. Ảnh: Petrovietnam
Một là tạo khung pháp lý đột phá và thống nhất cho phát triển năng lượng. Nghị quyết quy định các cơ chế, chính sách chuyên biệt cho giai đoạn 2026-2030, bao gồm điều chỉnh, cập nhật quy hoạch phát triển điện lực; xây dựng kế hoạch phát triển mạng lưới cấp điện; đầu tư dự án điện, điện gió ngoài khơi; cơ chế mua bán điện trực tiếp và các dự án dầu khí, than… giúp tháo gỡ nút thắt pháp lý, thủ tục hành chính cho các dự án năng lượng lớn.
Hai là tăng cường an ninh năng lượng. Khung chính sách mới góp phần bảo đảm cung cấp điện ổn định, an toàn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh nhu cầu điện năng tăng nhanh và các ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển mạnh. Điều này đặc biệt quan trọng khi nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng cao.
Ba là thúc đẩy chuyển đổi xanh, bền vững. Nghị quyết 253 tạo điều kiện cho phát triển năng lượng tái tạo và đặc biệt là điện gió ngoài khơi, cơ chế DPPA (Cơ chế mua bán điện trực tiếp) mở rộng, hỗ trợ huy động vốn tư nhân và đầu tư nước ngoài. Thúc đẩy năng lượng sạch là một hướng đi trọng tâm của quốc gia trong bối cảnh biến đổi khí hậu và các cam kết quốc tế về giảm phát thải.
“Nghị quyết 253 là ‘bệ phóng pháp lý’ thiết thực, giúp ngành năng lượng Việt Nam chuyển sang giai đoạn phát triển mới, an toàn, ổn định, xanh và thu hút đầu tư hơn từ năm 2026 trở đi” - TS. Nguyễn Huy Hoạch nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, đánh giá về ý nghĩa của Nghị quyết 253 trong việc cụ thể hóa Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, chuyên gia năng lượng cho hay, Nghị quyết 70 là văn kiện chiến lược về đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, đặt ra mục tiêu tổng thể cho ngành năng lượng về an ninh, tự chủ năng lượng, phát triển nhanh và bền vững.
“Vị thế của Nghị quyết 253 trong mối liên hệ này là bước thể chế hoá các quan điểm chiến lược của Nghị quyết 70. Trong khi Nghị quyết 70 xác định mục tiêu chiến lược và định hướng tổng quát, thì Nghị quyết 253 đưa ra các cơ chế, công cụ chính sách cụ thể để biến những mục tiêu đó thành hành động thực tế. Ví dụ, phương án cập nhật quy hoạch điện nhằm cân đối cung - cầu năng lượng; cơ chế ưu tiên cho dự án nguồn, lưới điện quan trọng; hỗ trợ phát triển điện sạch, điện gió ngoài khơi…”, đại diện Hiệp hội Năng lượng Việt Nam giải thích.
Nghị quyết 253 tạo điều kiện cho áp dụng các giải pháp của Nghị quyết 70, trong đó Nghị quyết 70 nhấn mạnh đảm bảo an ninh năng lượng, ổn định, đa dạng và hiệu quả thì Nghị quyết 253 đưa ra chính sách thúc đẩy đầu tư, thí điểm cơ chế giá mua - bán điện, cơ chế DPPA… để triển khai các mục tiêu đó vào thực tiễn.
“Nghị quyết 253 là công cụ pháp lý quan trọng để biến các định hướng chiến lược, mục tiêu dài hạn của Nghị quyết 70 thành các hành động cụ thể, có thể đo lường và thực thi trong giai đoạn 2026-2030” - TS. Nguyễn Huy Hoạch nhận định.

Nghị quyết 253 mở không gian phát triển mới cho ngành năng lượng, thúc đẩy đầu tư, chuyển dịch xanh và bảo đảm an ninh năng lượng dài hạn. Ảnh minh họa
Chia sẻ về những kỳ vọng Nghị quyết 253 sẽ tạo ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế và vị thế quốc gia trong kỷ nguyên vươn mình, đại diện Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho hay: Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế gắn với phát triển năng lượng ổn định, đó là cung cấp đủ điện và năng lượng chất lượng cao giúp doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ mở rộng hoạt động, giảm rủi ro thiếu điện, điều này hỗ trợ trực tiếp cho tăng trưởng GDP và thu hút đầu tư.
Thứ hai, thu hút đầu tư, cả trong và ngoài nước, trong đó cơ chế mới như DPPA mở rộng, cơ chế giá linh hoạt hơn, giảm thủ tục hành chính sẽ thu hút nhiều nhà đầu tư tư nhân, thúc đẩy thị trường điện cạnh tranh hơn và giúp Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn trong lĩnh vực năng lượng sạch, tái tạo.
Thư ba, định vị quốc gia trong chuyển đổi năng lượng toàn cầu. Việt Nam có thể xây dựng hình ảnh một quốc gia cam kết phát triển năng lượng sạch, ứng phó biến đổi khí hậu và tham gia chuỗi giá trị năng lượng quốc tế. Đây là lợi thế trong bối cảnh toàn cầu hướng đến Net Zero và mở rộng hợp tác năng lượng bền vững.
Thứ tư, an ninh năng lượng và bền vững xã hội, đó là xây dựng hệ thống năng lượng an toàn, không phụ thuộc quá mức vào một nguồn nhất định, góp phần ổn định xã hội, giảm rủi ro đối với đời sống người dân.
Mở không gian phát triển năng lượng
Cũng đánh giá về Nghị quyết 253, TS. Ngô Đức Lâm - nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng (Bộ Công Thương) cho biết, năng lượng là hạ tầng nền tảng của nền kinh tế, có vai trò quyết định đến năng lực tăng trưởng, sức cạnh tranh và tính tự chủ của quốc gia. Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao hơn, xanh hơn và bền vững hơn, việc Quốc hội ban hành Nghị quyết 253 mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

TS. Ngô Đức Lâm - nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng. Ảnh: Đại biểu nhân dân
“Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan hành pháp chủ động tháo gỡ những điểm nghẽn tồn tại lâu nay của ngành năng lượng. Đó là các vướng mắc trong quy hoạch nguồn điện, quy hoạch lưới điện, vận hành hệ thống điện thông minh; sự mất cân đối giữa nguồn điện nền và năng lượng tái tạo; cơ chế huy động vốn đầu tư; thị trường điện cạnh tranh và cơ chế giá điện” - TS. Ngô Đức Lâm nhận định.
Theo nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng, Nghị quyết 253 cụ thể hóa yêu cầu năng lượng phải đi trước một bước như tinh thần Nghị quyết 70, qua đó bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế bền vững, củng cố quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống Nhân dân. Đồng thời, nghị quyết còn tạo hành lang chính sách rõ ràng để Việt Nam thực hiện các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Về triển vọng phát triển năng lượng quốc gia và kỳ vọng vươn mình của kinh tế Việt Nam sau khi có Nghị quyết 253, TS. Ngô Đức Lâm cho hay, trên cơ sở Nghị quyết 253, Chính phủ có điều kiện điều chỉnh mạnh mẽ cơ cấu nguồn điện theo hướng hiện đại, cân bằng và bền vững hơn. Tỷ trọng năng lượng tái tạo được định hướng tăng từ khoảng 20% lên 28-33% vào năm 2030 và 60-75% vào năm 2045. Sản lượng điện tăng từ khoảng 140 tỷ kWh lên hơn 500 tỷ kWh vào năm 2030, tạo nền tảng năng lượng đủ mạnh để phục vụ mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số trong giai đoạn tới.
Cùng với đó, việc rà soát, điều chỉnh tiến độ các dự án điện gió ngoài khơi và điện khí LNG, kết hợp phát triển hợp lý điện mặt trời, đặc biệt là điện mặt trời mái nhà giúp hệ thống điện linh hoạt hơn, giảm áp lực đầu tư và tăng khả năng huy động nguồn lực xã hội. Các khu công nghiệp, khu kinh tế có phụ tải lớn được tạo điều kiện kết nối trực tiếp với lưới điện, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
“Nghị quyết 253, cùng với các chủ trương về thị trường điện cạnh tranh, cho phép mọi tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư phát điện và lưới điện, đã mở ra không gian rất lớn để huy động nguồn vốn xã hội. Điều này giúp giảm đáng kể gánh nặng đầu tư cho Nhà nước, đồng thời thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh, minh bạch trong ngành điện” - TS. Ngô Đức Lâm tin tưởng.
Cơ chế giá điện từng bước vận hành theo tín hiệu thị trường, bảo đảm công bằng, minh bạch và gắn với an sinh xã hội. Đây là nền tảng quan trọng để ngành năng lượng phát triển bền vững, qua đó tạo động lực cho kinh tế Việt Nam bứt phá, vươn mình trong thời kỳ phát triển mới.
Cũng theo TS. Ngô Đức Lâm, bên cạnh việc tháo gỡ các nút thắt về quy hoạch và cơ chế đầu tư, Nghị quyết 253 còn tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong phát triển năng lượng. Theo đó, nhiều thủ tục hành chính được cắt giảm, quy trình triển khai dự án được rút ngắn, giúp các dự án năng lượng được thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn. Đặc biệt, nghị quyết mở rộng thẩm quyền cho địa phương trong công tác giải phóng mặt bằng, huy động nguồn lực, tạo điều kiện để các tổ chức, doanh nghiệp và khu vực tư nhân tham gia sâu hơn vào đầu tư, phát triển các dự án năng lượng.
Tổng thể, việc Quốc hội ban hành Nghị quyết 253 có ý nghĩa rất lớn, tạo dựng một khung pháp lý thiết thực và linh hoạt để các cơ quan hành pháp kịp thời điều chỉnh Quy hoạch phát triển năng lượng giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045; đồng thời ban hành các văn bản hướng dẫn nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn tồn tại lâu nay, thúc đẩy tiến độ các dự án năng lượng trọng điểm.
Qua đó, nghị quyết góp phần bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia phù hợp với tinh thần các nghị quyết lớn của Bộ Chính trị, đặc biệt là Nghị quyết 55 và Nghị quyết 70, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, bảo đảm an ninh kinh tế, quốc phòng và nâng cao chất lượng đời sống nhân dân trong giai đoạn phát triển mới.
Dự kiến ngày 29/1, Báo Công Thương sẽ tổ chức “Diễn đàn hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030”, góp phần cụ thể hóa nghị quyết của Quốc hội về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030.
Với sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia và doanh nghiệp, diễn đàn sẽ tập trung bàn giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, huy động nguồn lực và thúc đẩy các lĩnh vực then chốt, góp phần đưa nghị quyết vào cuộc sống.





