Nghị quyết 253: Gỡ điểm nghẽn chính sách, tạo lợi thế cạnh tranh

Với các cơ chế đột phá, Nghị quyết 253 tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế trong phát triển năng lượng, thu hút đầu tư chất lượng cao, tạo lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế.

Trên cơ sở tinh thần Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Quốc hội khóa 15 cũng đã thông qua Nghị quyết số 253/2025/QH15 ngày 11/12/2025, quy định về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026-2030, có hiệu lực từ 1/3/2026. Với những cơ chế, chính sách mang tính đột phá, Nghị quyết được kỳ vọng sẽ tạo ra tác động sâu rộng đối với phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, GS.TS Hoàng Văn Cường - Ủy ban Kinh tế - Tài chính của Quốc hội, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ đã phân tích những điểm mới, cơ hội và yêu cầu thực thi đặt ra của Nghị quyết. Đồng thời đưa ra những khuyến nghị đối với chính quyền địa phương và cộng đồng doanh nghiệp.

GS.TS Hoàng Văn Cường - Ủy ban Kinh tế - Tài chính của Quốc hội, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ.

GS.TS Hoàng Văn Cường - Ủy ban Kinh tế - Tài chính của Quốc hội, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ.

Những chính sách nổi bật

- Theo ông, đâu là những chính sách nổi bật nhất của Nghị quyết 253 đối với phát triển năng lượng giai đoạn 2026 - 2030? Ông đánh giá Nghị quyết đóng vai trò như thế nào trong việc củng cố an ninh năng lượng và tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế dài hạn?

ĐBQH Hoàng Văn Cường:Nghị quyết 253/2025/QH15 đã đưa ra nhiều cơ chế chính sách mang tính vượt trội và đột phá cho phát triển năng lượng trong giai đoạn tới.

Trước hết là cơ chế điều chỉnh quy hoạch năng lượng. Khác với cách tiếp cận truyền thống phụ thuộc chặt chẽ vào các quy định chung của Luật Quy hoạch, Nghị quyết cho phép việc điều chỉnh quy hoạch năng lượng căn cứ trực tiếp vào yêu cầu thực tiễn của phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu năng lượng. Đồng thời, thẩm quyền trong điều chỉnh quy hoạch cũng được mở rộng hơn so với quy định hiện hành, tạo dư địa linh hoạt để phản ứng kịp thời với biến động của thị trường và nhu cầu tiêu thụ.

Thứ hai là việc cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong đầu tư năng lượng. Nghị quyết quy định không phải mọi dự án đều bắt buộc phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư. Với những dự án đã nằm trong quy hoạch và đã có phương án đầu tư cụ thể, có thể coi như đã được thông qua chủ trương đầu tư. Điều này giúp rút ngắn đáng kể thời gian chuẩn bị dự án và đẩy nhanh tiến độ triển khai trên thực tế.

Thứ ba là cơ chế lựa chọn nhà đầu tư được mở rộng và linh hoạt hơn. Việc giao hoặc lựa chọn chủ đầu tư không nhất thiết phải thông qua các thủ tục đấu thầu hay đấu giá trong mọi trường hợp. Cách tiếp cận này giúp tránh kéo dài thời gian triển khai và quan trọng hơn là lựa chọn được đúng những nhà đầu tư có năng lực, phù hợp với định hướng ưu tiên phát triển của từng loại hình năng lượng.

Một điểm rất đáng chú ý khác của Nghị quyết 253 là việc thúc đẩy tự do hóa thị trường điện. Nghị quyết mở ra cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa nhà sản xuất và các khách hàng tiêu thụ điện lớn, tạo thêm không gian cho thị trường vận hành theo tín hiệu cung cầu. Bên cạnh đó, Nghị quyết cũng cho phép khu vực tư nhân và doanh nghiệp tham gia phát triển các hệ thống điện hạt nhân mô-đun nhỏ, qua đó từng bước đưa nguồn năng lượng mới này vào hệ thống với mức độ an toàn và khả năng tiếp cận cao hơn.

Có thể nói, Nghị quyết đã tạo ra một khuôn khổ chính sách thuận lợi để thu hút đa dạng nguồn lực từ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào lĩnh vực năng lượng. Đồng thời, Nghị quyết góp phần rút ngắn thời gian thực hiện dự án, tăng tính năng động và linh hoạt trong phát triển lưới điện và đặc biệt là đa dạng hóa các nguồn cung năng lượng.

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới gắn với trí tuệ nhân tạo và công nghiệp số, nhu cầu về năng lượng sẽ rất lớn và đòi hỏi độ ổn định cao. Vì vậy, Nghị quyết 253 chính là cơ sở quan trọng để củng cố an ninh năng lượng quốc gia và tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn.

Doanh nghiệp hưởng lợi trực tiếp

- Nghị quyết cũng được đánh giá là mở đường cho thị trường điện cạnh tranh. Ông nhìn nhận như thế nào về những cơ hội dành cho khu vực tư nhân?

ĐBQH Hoàng Văn Cường:Rõ ràng Nghị quyết lần này đã mở ra cơ hội rất rộng cho nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trường điện. Nghị quyết không phân biệt khu vực nhà nước hay khu vực tư nhân mà đặt trọng tâm vào năng lực và điều kiện tham gia của nhà đầu tư và doanh nghiệp.

Theo đó, các doanh nghiệp đủ điều kiện có thể tham gia trực tiếp vào hoạt động trao đổi và mua bán điện theo cơ chế thị trường. Đây là bước tiến quan trọng trong quá trình hình thành thị trường điện cạnh tranh, giúp các chủ thể tham gia chủ động hơn trong sản xuất, phân phối và tiêu thụ điện năng.

Nghị quyết cho phép khu vực tư nhân tham gia phát triển nhiều cấu phần của hệ thống điện, bao gồm cả các hệ thống truyền dẫn và phân phối điện phục vụ cho hoạt động mua bán điện trực tiếp. Điều này tạo điều kiện để hình thành các mô hình cung cấp điện cục bộ, đáp ứng nhu cầu của các nhóm khách hàng và khu vực tiêu thụ cụ thể, nhất là những khách hàng lớn.

Đặc biệt, Nghị quyết đã mở ra cánh cửa cho khu vực tư nhân tham gia đầu tư các dự án điện hạt nhân mô-đun nhỏ với quy mô phù hợp và tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn quốc tế. Đây là điểm mới có ý nghĩa chiến lược, giúp đa dạng hóa nguồn cung điện và tăng khả năng tiếp cận các công nghệ năng lượng tiên tiến.

Bên cạnh đó, khu vực tư nhân cũng có thêm nhiều cơ hội đầu tư và phát triển các loại hình năng lượng như điện mặt trời, điện gió, điện khí và tham gia xây dựng, vận hành các mạng lưới truyền tải điện trong phạm vi cục bộ hoặc liên kết giữa các đơn vị cung cấp điện.

GS.TS Hoàng Văn Cường trao đổi với phóng viên Báo Công Thương - Ảnh: Thái Mạnh

GS.TS Hoàng Văn Cường trao đổi với phóng viên Báo Công Thương - Ảnh: Thái Mạnh

Bài toán nâng cao năng lực thực thi

- Với định hướng phát triển mạnh năng lượng tái tạo, điện gió ngoài khơi, điện hạt nhân mô-đun nhỏ và hệ thống lưu trữ năng lượng, ông nhìn nhận quá trình chuyển dịch năng lượng theo tinh thần Nghị quyết sẽ tạo ra những lợi thế cạnh tranh mới nào cho nền kinh tế Việt Nam, nhất là trong thu hút đầu tư và hình thành các ngành công nghiệp năng lượng mới?

ĐBQH Hoàng Văn Cường:Chúng ta đều thấy rằng, Việt Nam đang xác định chiến lược phát triển kinh tế gắn với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển trí tuệ nhân tạo và kinh tế số. Quá trình này đòi hỏi nhu cầu năng lượng rất lớn và quan trọng hơn là nguồn năng lượng phải ổn định, bền vững và có chất lượng cao.

Trong khi đó, Việt Nam đã cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Điều này đặt ra yêu cầu cấp bách phải chuyển dịch mạnh mẽ từ các nguồn năng lượng hóa thạch truyền thống sang các nguồn năng lượng sạch và năng lượng tái tạo. Đây vừa là áp lực vừa là cơ hội lớn cho nền kinh tế.

Nếu thực hiện tốt định hướng chuyển đổi năng lượng theo Nghị quyết, Việt Nam sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng trong thu hút đầu tư, nhất là các dòng vốn đầu tư chất lượng cao. Bởi hiện nay, nhiều nhà đầu tư quốc tế khi quyết định địa điểm sản xuất đều đặt ra yêu cầu rất khắt khe về nguồn năng lượng sử dụng, trong đó các tiêu chuẩn về môi trường, xã hội và quản trị đang trở thành điều kiện bắt buộc.

Việc phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo, điện hạt nhân mô-đun nhỏ và hệ thống lưu trữ năng lượng sẽ giúp Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về ESG trong cung ứng điện cho sản xuất. Điều này không chỉ giúp quốc gia tuân thủ các cam kết quốc tế mà còn tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước sử dụng nguồn điện sạch, qua đó đáp ứng yêu cầu của các thị trường xuất khẩu lớn.

Ở góc độ dài hạn, quá trình chuyển dịch năng lượng cũng sẽ mở ra không gian hình thành và phát triển các ngành công nghiệp mới. Từ công nghiệp sản xuất thiết bị năng lượng tái tạo, công nghệ lưu trữ năng lượng, dịch vụ kỹ thuật cho điện gió ngoài khơi đến các lĩnh vực liên quan đến điện hạt nhân mô-đun nhỏ, tất cả đều có thể trở thành những ngành kinh tế mới với giá trị gia tăng cao.

Khi các doanh nghiệp Việt Nam được tiếp cận và sử dụng nguồn năng lượng sạch, ổn định, họ sẽ có điều kiện tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt là các chuỗi cung ứng xanh. Đây chính là lợi thế cạnh tranh mang tính nền tảng để kinh tế Việt Nam phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Nghị quyết số 253/2025/QH15 quy định các cơ chế, chính sách đặc thù để thúc đẩy phát triển điện lực, đặc biệt là năng lượng sạch - Ảnh minh họa

Nghị quyết số 253/2025/QH15 quy định các cơ chế, chính sách đặc thù để thúc đẩy phát triển điện lực, đặc biệt là năng lượng sạch - Ảnh minh họa

- Nghị quyết đã mở đường nhưng hiệu quả cuối cùng phụ thuộc rất lớn vào khâu triển khai. Theo ông, đâu là yếu tố then chốt để Nghị quyết 253 thực sự đi vào cuộc sống? Từ tinh thần của Nghị quyết, ông muốn gửi gắm thông điệp gì tới các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp để cùng chung tay hiện thực hóa mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng và phát triển bền vững?

ĐBQH Hoàng Văn Cường:Nghị quyết đã mở ra một hướng tiếp cận mới, theo đó tăng quyền và tăng trách nhiệm cho các cơ quan thực thi, đồng thời giảm sự phụ thuộc vào các thủ tục hành chính rườm rà. Tuy nhiên để Nghị quyết thực sự phát huy hiệu quả thì yếu tố then chốt nằm ở tinh thần thực thi.

Theo tôi, điều quan trọng nhất là các cơ quan quản lý và các đơn vị được giao thực hiện phải phát huy được tính tự chủ trong quyết định, sự quyết đoán và dám chịu trách nhiệm. Nghị quyết đã trao quyền khá rõ ràng nhưng nếu các cơ quan thực thi không dám sử dụng hết quyền hạn đó thì các cơ chế, chính sách dù tiến bộ đến đâu cũng khó đi vào cuộc sống. Chỉ khi các cơ quan thực thi mạnh dạn vận dụng đầy đủ những cơ chế mà Nghị quyết đã trao thì các dự án, chương trình và kế hoạch phát triển năng lượng mới có thể được triển khai nhanh chóng và hiệu quả.

Đối với cộng đồng doanh nghiệp, cơ hội mà Nghị quyết mở ra là rất lớn. Doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế đều có điều kiện tham gia đầu tư vào lĩnh vực năng lượng. Tuy nhiên, cùng với việc cắt giảm thủ tục hành chính, Nghị quyết lại đặt ra yêu cầu rất cao về tiêu chuẩn và quy chuẩn. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao mức độ chuyên nghiệp, năng lực quản trị và năng lực kỹ thuật để chứng minh rằng mình đủ điều kiện, đủ năng lực triển khai các dự án năng lượng một cách an toàn, ổn định và bền vững. Khi doanh nghiệp tạo được niềm tin cho cơ quan quản lý việc ra quyết định sẽ nhanh hơn và các dự án cũng sẽ được triển khai thuận lợi hơn.

Đối với chính quyền địa phương, Nghị quyết trao quyền rất lớn, từ việc điều chỉnh kế hoạch, quyết định chủ trương đầu tư đến lựa chọn phương án phát triển mạng lưới năng lượng. Điều này đặt ra yêu cầu cao về tính chủ động, tính quyết liệt và tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương. Địa phương nào năng động, sáng tạo và quyết liệt trong tổ chức thực hiện thì địa phương đó sẽ tận dụng tốt hơn các lợi thế, thu hút được nhà đầu tư và triển khai thành công các mục tiêu mà Nghị quyết đã đề ra.

- Xin cảm ơn ông!

Dự kiến ngày 29/1, Báo Công Thương tổ chức “Diễn đàn hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030”, góp phần cụ thể hóa Nghị quyết của Quốc hội về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030.

Diễn đàn có sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia và doanh nghiệp…, tập trung bàn giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, huy động nguồn lực và thúc đẩy các lĩnh vực then chốt góp phần đưa Nghị quyết vào cuộc sống.

Nguyên Thảo (thực hiện)

Có thể bạn quan tâm

Bình luận