Nghị quyết 10-NQ/TW: Cơ hội để doanh nghiệp nhỏ và vừa bước vào chuỗi giá trị toàn cầu

Nghị quyết 10-NQ/TW đặt ra yêu cầu mới, trong đó, doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tự nâng cấp để trở thành đối tác tin cậy trong hệ sinh thái FDI.

Thay mặt Bộ Chính trị, ngày 8/6/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Mạc Quốc Anh, Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội (hanoisme) đánh giá, nghị quyết là văn bản chiến lược đánh dấu bước chuyển tư duy căn bản trong thu hút và quản lý dòng vốn ngoại sau gần 40 năm Đổi mới; đồng thời chia sẻ về ý nghĩa, cơ hội và trách nhiệm của cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa Thủ đô trong triển khai nghị quyết.

TS. Mạc Quốc Anh, Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội. Ảnh: Quang Khánh

TS. Mạc Quốc Anh, Ủy viên Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội. Ảnh: Quang Khánh

3 thông điệp cho doanh nghiệp

- Nghị quyết 10-NQ/TW xác định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là động lực quan trọng của nền kinh tế; chuyển mạnh từ tư duy thu hút vốn sang phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia. Đây có phải là cơ hội để doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, thưa ông?

TS. Mạc Quốc Anh: Tôi cho rằng, Nghị quyết 10-NQ/TW là một lời hiệu triệu chiến lược đối với cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghị quyết đặt ra cách tiếp cận mới, căn bản và thực tiễn: thu hút đầu tư nước ngoài phải hướng tới hình thành nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; dòng vốn FDI phải trở thành kênh lan tỏa công nghệ, quản trị, tiêu chuẩn, nhân lực và thị trường cho doanh nghiệp trong nước.

Trong gần 40 năm đổi mới, khu vực FDI đã đóng góp lớn cho tăng trưởng, xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Song chúng ta cũng phải thẳng thắn nhìn nhận, mức độ liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa còn hạn chế; tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều ngành còn thấp; doanh nghiệp Việt Nam phần lớn mới tham gia ở các công đoạn gia công, cung ứng đơn giản, giá trị gia tăng chưa cao.

Vì vậy, Nghị quyết lần này có ý nghĩa như một bước chuyển từ "thu hút để có mặt bằng sản xuất" sang "thu hút để tạo năng lực quốc gia". Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ hội lớn nhất là được bước vào hệ sinh thái tiêu chuẩn quốc tế ngay trên sân nhà. Khi các tập đoàn FDI đầu tư theo cụm ngành, chuỗi giá trị và trung tâm đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp Việt Nam có thể học cách tổ chức sản xuất, quản trị chất lượng, truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn ESG, tiêu chuẩn lao động và văn hóa tuân thủ toàn cầu.

Tuy nhiên, cơ hội chỉ thành hiện thực khi doanh nghiệp nhỏ và vừa tự nâng cấp. Không thể tham gia chuỗi giá trị toàn cầu bằng tư duy sản xuất nhỏ lẻ, quản trị gia đình, thiếu minh bạch tài chính và thiếu năng lực giao hàng ổn định. Các tập đoàn FDI cần độ tin cậy, kỷ luật, chất lượng đồng đều và khả năng đồng hành dài hạn, chứ không chỉ cần giá rẻ.

Tôi đặc biệt đánh giá cao tinh thần của Nghị quyết 10-NQ/TW khi đặt doanh nghiệp trong nước vào vị trí trung tâm của quá trình lan tỏa FDI. Một nền kinh tế thật sự tự chủ khi doanh nghiệp nội địa đủ năng lực tham gia vào các khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong thiết kế, logistics, dịch vụ kỹ thuật, công nghiệp hỗ trợ, chuyển đổi số và nghiên cứu phát triển.

Với cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, Nghị quyết 10-NQ/TW mở ra ba thông điệp rõ ràng. Một là, phải chuẩn hóa để được lựa chọn. Hai là, phải liên kết để lớn lên. Ba là, phải đổi mới sáng tạo để đi sâu vào chuỗi giá trị, chứ không chỉ chạy theo các hợp đồng ngắn hạn.

Đây là thời điểm doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam phải chuyển từ tâm thế “đứng ngoài quan sát FDI” sang tâm thế “chủ động tham gia, đồng hành và cùng kiến tạo giá trị với FDI”.

Nâng "chất" doanh nghiệp trong chuỗi FDI

- Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 rất rõ về số lượng doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị và tỷ lệ nội địa hoá. Với những chỉ tiêu đó, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội đang và sẽ triển khai những giải pháp gì để hội viên trở thành đối tác vệ tinh tin cậy cho các tập đoàn FDI, thưa ông?

TS. Mạc Quốc Anh: Theo tôi, mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 10.000 doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị và tỷ lệ nội địa hóa đạt 45-50% là mục tiêu cao, nhưng hoàn toàn cần thiết và đúng thời điểm.

Với Hà Nội, đây là yêu cầu vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính chiến lược, bởi Thủ đô là trung tâm lớn về khoa học công nghệ, tài chính, đổi mới sáng tạo và cộng đồng doanh nghiệp.

Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội xác định, muốn hội viên trở thành đối tác vệ tinh tin cậy của các tập đoàn FDI thì không thể chỉ dừng ở việc tổ chức hội nghị kết nối. Điều quan trọng hơn là giúp doanh nghiệp nâng cấp năng lực thực chất để đủ điều kiện bước vào chuỗi cung ứng.

Trước hết, hiệp hội sẽ đẩy mạnh chương trình chuẩn hóa doanh nghiệp hội viên theo tiêu chuẩn chuỗi cung ứng. Rà soát năng lực quản trị, minh bạch tài chính, tiêu chuẩn chất lượng, chứng nhận sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và khả năng tuân thủ các yêu cầu về môi trường, lao động, an toàn sản xuất. Đây là điều kiện căn bản để doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể trở thành nhà cung ứng cấp II, cấp III, tiến tới cấp I cho các tập đoàn lớn.

Thứ hai, xây dựng cơ sở dữ liệu hội viên theo ngành hàng, năng lực sản xuất và tiêu chuẩn kỹ thuật. Trong giai đoạn mới, xúc tiến thương mại phải dựa trên dữ liệu đáng tin cậy. Doanh nghiệp FDI cần tìm nhà cung ứng nội địa phải có dữ liệu số hóa, minh bạch và cập nhật.

Thứ ba, phối hợp với các sở, ngành, khu công nghiệp, các tập đoàn FDI và tổ chức quốc tế để tổ chức các chương trình đào tạo chuyên sâu về công nghiệp hỗ trợ, quản trị sản xuất tinh gọn, tiêu chuẩn ESG, chuyển đổi số, logistics và thương mại quốc tế. Vai trò của hiệp hội là gom nhu cầu, kết nối chuyên gia và tổ chức chương trình có tính thực hành cao.

Thứ tư, thúc đẩy mô hình kết nối có điều kiện. Chuẩn bị trước cho doanh nghiệp về tiêu chuẩn, hồ sơ, năng lực đàm phán và khả năng đáp ứng đơn hàng. Kết nối mà không chuẩn hóa thì dễ thất bại; nhưng chuẩn hóa tốt thì một cuộc gặp có thể mở ra chuỗi hợp đồng và quan hệ đối tác dài hạn.

Thứ năm, kiến nghị Thành phố Hà Nội có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi cung ứng FDI thông qua hỗ trợ tư vấn tiêu chuẩn, chứng nhận, chuyển đổi số, tín dụng xanh, đào tạo nhân lực và kết nối trung tâm đổi mới sáng tạo. Đặc biệt cần ưu tiên các lĩnh vực Hà Nội có lợi thế như công nghiệp hỗ trợ, cơ khí chính xác, điện tử, công nghệ thông tin và logistics.

Tôi cho rằng, vai trò của hiệp hội trong giai đoạn này là chuyển từ "đại diện tiếng nói doanh nghiệp" sang "tổ chức năng lực cho doanh nghiệp". Khi doanh nghiệp hội viên đủ chuẩn, đủ dữ liệu, đủ niềm tin và đủ năng lực thực thi, họ sẽ không còn đứng bên lề chuỗi giá trị FDI, mà có thể trở thành một phần của chuỗi giá trị ấy.

Môi trường đầu tư kinh doanh chuyển sang nấc thang mới

- Ông kỳ vọng gì vào sự thay đổi môi trường đầu tư kinh doanh sau khi Nghị quyết được triển khai và hiệp hội sẽ đóng vai trò cầu nối ra sao tại Hà Nội?

TS. Mạc Quốc Anh: Tôi kỳ vọng Nghị quyết 10-NQ/TW sẽ tạo ra sự thay đổi căn bản trong tư duy quản trị phát triển: từ thu hút đầu tư bằng ưu đãi đơn lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái đầu tư có chất lượng; từ cạnh tranh bằng đất đai, thuế, lao động giá rẻ sang cạnh tranh bằng thể chế, hạ tầng, nhân lực, công nghệ và khả năng liên kết chuỗi.

Trong xu thế chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc, các nhà đầu tư chiến lược sẽ tìm nơi có hệ sinh thái đủ mạnh, môi trường pháp lý ổn định, thủ tục minh bạch, nhân lực chất lượng, hạ tầng logistics tốt và mạng lưới nhà cung ứng nội địa đáng tin cậy. Nếu thu hút FDI theo từng địa phương riêng lẻ, dễ dẫn đến phân tán nguồn lực, thiếu liên kết vùng và khó hình thành chuỗi giá trị lớn.

Với Hà Nội, tôi cho rằng, cơ hội nằm ở việc định vị Thủ đô trở thành trung tâm kết nối FDI chất lượng cao với hệ sinh thái doanh nghiệp Việt Nam. Hà Nội có lợi thế về nhân lực, trường đại học, viện nghiên cứu, dịch vụ tài chính, thị trường tiêu dùng lớn và cộng đồng doanh nghiệp đông đảo. Nếu tổ chức theo cụm ngành và chuỗi giá trị, Hà Nội hoàn toàn có thể trở thành đầu mối kết nối các tập đoàn FDI với doanh nghiệp vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Tôi đặc biệt ủng hộ định hướng chuyển từ ưu đãi theo đầu vào sang hỗ trợ gắn với kết quả thực hiện cam kết. Hỗ trợ theo kết quả sẽ khuyến khích nhà đầu tư FDI thực hiện cam kết về chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực Việt Nam, sử dụng nhà cung ứng trong nước và tăng tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa. Đây là cách tiếp cận hiện đại, công bằng và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Về vai trò cầu nối của hiệp hội, chúng tôi xác định ba chức năng trọng tâm, đó là: cầu nối chính sách; cầu nối thị trường và cầu nối năng lực. Hiệp hội sẽ đồng hành cùng hội viên trong quá trình nâng cấp quản trị, chuẩn hóa sản xuất, số hóa dữ liệu, tiếp cận vốn, đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực và xây dựng văn hóa tuân thủ. Doanh nghiệp nhỏ và vừa muốn đi cùng FDI thì phải có năng lực tương thích với FDI. Đây là điều kiện cốt lõi.

Tôi tin rằng, khi Nghị quyết 10-NQ/TW được triển khai đồng bộ, môi trường đầu tư kinh doanh của Hà Nội sẽ chuyển sang một nấc thang mới: minh bạch hơn, chọn lọc hơn và gắn kết hơn với khu vực doanh nghiệp trong nước.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, không có con đường hội nhập nào bền vững nếu doanh nghiệp không tự nâng mình lên. Song cũng không có doanh nghiệp nào đi xa nếu thiếu một hệ sinh thái hỗ trợ đúng và thực chất.

Nguyên Khánh

Có thể bạn quan tâm