Nghị quyết 02/NQ-CP: Cải thiện môi trường kinh doanh, củng cố sức bật doanh nghiệp

Nghị quyết 02/NQ-CP hướng tới khơi thông nguồn lực, nâng cao hiệu quả điều hành và tạo dư địa cạnh tranh cho nền kinh tế.

Đòn bẩy cho chu kỳ tăng trưởng mới

Bước vào năm 2026, nền kinh tế Việt Nam đứng trước yêu cầu chuyển từ phục hồi sang bứt phá trong một bối cảnh cạnh tranh quốc gia ngày càng gay gắt. Áp lực từ tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, tiêu chuẩn phát triển bền vững, chuyển đổi số và yêu cầu nâng cao năng lực nội tại đặt ra yêu cầu môi trường kinh doanh phải thực sự thông thoáng, an toàn, chi phí thấp và có khả năng dự báo.

Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2026. Đây là phiên bản thứ 11 của một nghị quyết chuyên đề về môi trường kinh doanh, kể từ khi Nghị quyết 19 được khởi xướng vào năm 2014 (trừ năm 2023).

Hiệu quả cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh đang trở thành yếu tố then chốt chi phối tăng trưởng và triển vọng phát triển bền vững của nền kinh tế.

Hiệu quả cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh đang trở thành yếu tố then chốt chi phối tăng trưởng và triển vọng phát triển bền vững của nền kinh tế.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, Luật sư Nguyễn Hồng Chung - Chuyên gia chính sách đầu tư, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Liên chi hội tài chính khu công nghiệp Việt Nam nhận định, tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết là hành động quyết liệt, thực chất và lấy kết quả làm thước đo. Đây là sự tiếp nối có điều chỉnh về cách tiếp cận sau hơn một thập kỷ kiên trì theo đuổi mục tiêu cải thiện môi trường kinh doanh. Yêu cầu "đã nói là làm, đã cam kết là phải thực hiện" thể hiện quyết tâm chuyển định hướng cải cách thành những chuyển biến cụ thể trong thực tiễn điều hành, vận hành của môi trường kinh doanh.

Nghị quyết 02/NQ-CP đã nhìn thẳng vào điểm nghẽn lớn nhất của môi trường kinh doanh, đó là thể chế và khâu thực thi. Cải cách thể chế tiếp tục được xác định là đột phá then chốt với trọng tâm là nâng cao chất lượng xây dựng chính sách pháp luật, bảo đảm đồng bộ, minh bạch và dễ thực hiện. Việc cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính nhằm giảm chi phí tuân thủ, tạo dựng niềm tin về tính ổn định và khả năng dự báo của môi trường đầu tư.

Theo ông, việc nghị quyết đặt yêu cầu chuyển đổi tư duy xây dựng pháp luật, từ bỏ cách tiếp cận "không quản được thì cấm" để hướng tới kiến tạo phát triển đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh các mô hình kinh doanh mới, công nghệ mới và hình thức đầu tư mới đang phát triển nhanh, đòi hỏi khung khổ pháp lý linh hoạt và thích ứng.

Song hành với cải cách thể chế là yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực và tăng cường giám sát. "Nguyên tắc "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm" nhằm rút ngắn quá trình ra quyết định và nâng cao trách nhiệm của bộ máy thực thi ở cơ sở. Cải cách thể chế nếu không đi kèm cải cách thực thi sẽ khó tạo ra chuyển biến thực chất", vị chuyên gia nhấn mạnh.

Khơi thông nguồn lực, củng cố niềm tin thị trường

Xét đến cùng, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia không phải là cuộc chạy đua thứ hạng mang tính hình thức. Trọng tâm mà Nghị quyết 02/NQ-CP hướng tới là khơi thông các nguồn lực cho phát triển, trước hết từ khu vực doanh nghiệp tư nhân. Chỉ khi môi trường kinh doanh đủ thông thoáng, an toàn và chi phí tuân thủ được kéo giảm, dòng vốn trong xã hội mới có điều kiện được kích hoạt và luân chuyển hiệu quả.

Những diễn biến của khu vực doanh nghiệp trong năm 2025 cho thấy vai trò mang tính quyết định của niềm tin thị trường. Số liệu đăng ký doanh nghiệp phản ánh khá rõ việc cộng đồng doanh nghiệp đã đi qua giai đoạn khó khăn nhất. Riêng trong tháng 12/2025, hơn 17.000 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng trên 70% so với cùng kỳ. Trong hai quý cuối năm, số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động duy trì ở mức cao so với nhiều năm trước.

Cùng với sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp, quy mô dòng vốn cũng ghi nhận sự dịch chuyển tích cực. Tổng vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế vượt 6,35 triệu tỷ đồng, trong đó phần lớn là vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động. Khi đặt các số liệu này trong tương quan với mức tăng 8,4% của vốn đầu tư tư nhân trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2025, có thể nhận diện rõ bước chuyển trạng thái của khu vực doanh nghiệp tư nhân, từ tâm thế phòng thủ kéo dài sang trạng thái sẵn sàng bước vào một chu kỳ tăng trưởng mới.

Theo Luật sư Nguyễn Hồng Chung, Nghị quyết 02/NQ-CP tiếp tục củng cố xu hướng này thông qua các nhóm giải pháp tháo gỡ vướng mắc pháp lý trong thực hiện dự án đầu tư, đổi mới công tác quản lý và kiểm tra chuyên ngành theo hướng hậu kiểm và quản lý rủi ro, đồng thời giảm số lượng các hoạt động thanh tra doanh nghiệp. Đây là những giải pháp tác động trực tiếp đến chi phí kinh doanh và tâm lý đầu tư, qua đó tạo dư địa khơi thông nguồn lực từ khu vực tư nhân cho phát triển.

Lần đầu tiên các chỉ số "nội địa" được đưa vào nhóm giải pháp chính thức nhằm cải thiện môi trường kinh doanh.

Lần đầu tiên các chỉ số "nội địa" được đưa vào nhóm giải pháp chính thức nhằm cải thiện môi trường kinh doanh.

Động lực cải cách

Một điểm điều chỉnh đáng chú ý của Nghị quyết 02/NQ-CP năm 2026 là việc bổ sung các chỉ số đo lường "nội địa" như Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, Chỉ số Cải cách hành chính và Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước vào nhóm giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh.

Đây là lần đầu tiên các chỉ số nội địa được đưa vào nhóm giải pháp chính thức song hành với các chỉ số quốc tế. Sự điều chỉnh này phản ánh một chuyển dịch quan trọng trong tư duy điều hành, từ đánh giá bằng thứ hạng sang đánh giá bằng trải nghiệm thực tiễn. Cảm nhận của doanh nghiệp và người dân về chất lượng phục vụ của chính quyền trở thành thước đo trực tiếp hiệu quả cải cách.

Tuy nhiên, việc bổ sung các chỉ số nội địa không tách rời mà bổ trợ cho định hướng tiệm cận các chuẩn mực quốc tế đã được Việt Nam kiên trì theo đuổi hơn một thập kỷ qua. Thực tế việc lựa chọn các bảng xếp hạng toàn cầu của các tổ chức quốc tế làm khung tham chiếu cho cải cách môi trường kinh doanh từng được các chuyên gia quốc tế ghi nhận là một bước ngoặt quan trọng trong tư duy điều hành của Việt Nam.

Theo TS. Nguyễn Đình Cung - Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, một trong những người tham gia xây dựng Nghị quyết trong những năm đầu, cách tiếp cận này đã gửi đi một thông điệp tích cực tới cộng đồng đầu tư và kinh doanh toàn cầu.

Trước hết, Việt Nam thể hiện rõ việc chấp nhận luật chơi và thông lệ quốc tế, đồng thời sẵn sàng tham gia cạnh tranh toàn cầu về chất lượng môi trường kinh doanh.

Quan trọng hơn, việc bám theo các bảng xếp hạng quốc tế tạo ra áp lực cải cách mạnh mẽ đối với bộ máy công quyền. Quá trình này buộc các cơ quan quản lý phải tiếp cận phương pháp luận hiện đại, học cách thu thập và xử lý dữ liệu cũng như đánh giá chính sách dựa trên tiêu chí cụ thể. 

Cách tiếp cận này giúp các cơ quan quản lý nhận diện rõ hơn những điểm mạnh và điểm yếu của chính mình trong điều hành môi trường kinh doanh. Thay vì dựa vào đánh giá cảm tính hoặc báo cáo nội bộ, kết quả cải cách được soi chiếu qua các tiêu chí độc lập và so sánh được với các nền kinh tế khác trong khu vực và trên thế giới. Điều này làm gia tăng áp lực cải cách liên tục và hạn chế nguy cơ tự bằng lòng với những kết quả ngắn hạn.

"Cuộc đua ganh với các nền kinh tế trong khu vực, các nền kinh tế cùng giai đoạn phát triển và với thế giới đã tạo ra sức ép rất lớn đối với cải cách. Chính sức ép đó trở thành động lực thúc đẩy bộ máy điều hành phải vận động nhanh hơn, hiệu quả hơn và sát với chuẩn mực quốc tế hơn. Nhờ vậy, môi trường kinh doanh của Việt Nam từng bước được cải thiện và ngày càng ghi điểm trong đánh giá của cộng đồng đầu tư quốc tế", TS. Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh. 

Năm 2026, Chính phủ đặt mục tiêu tiếp tục nâng cao thứ hạng của Việt Nam trên các bảng xếp hạng quốc tế quan trọng như: Phát triển bền vững (SDG) vào nhóm 50 nước đứng đầu; chỉ số quyền tài sản tăng ít nhất 3 bậc; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu tăng ít nhất 1 bậc; chỉ số phát triển Chính phủ điện tử tăng ít nhất 2 bậc; hiệu quả logistics và năng lực phát triển du lịch tăng từ 4 bậc trở lên. Đồng thời, các chỉ số phản ánh mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp như PCI, PAR Index, SIPAS tiếp tục được cải thiện.

Nguyên Thảo

Có thể bạn quan tâm

Bình luận