Ngành điện miền Trung - Nam bộ: Viết tiếp trang sử 30/4

Có thể nói, ngày hôm nay đi dọc vĩ tuyến 17 đến tận đất mũi Cà Mau, bất kỳ ai cũng phải thừa nhận rằng có một chiến thắng vinh quang không kém ngày giải phóng miền Nam, đó là thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ vẹn toàn lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc. Trong hành trình 40 năm ấy có sự đóng góp của ngành điện miền Trung – Nam bộ.

Từ ký ức 40 năm

Theo lời kể của những cán bộ lão thành ngành điện, sáng 1/5/1975, tiểu ban Quân quản Sài Gòn - Gia Định gồm 33 người đã đến trụ sở Công ty Điện lực Việt Nam tại số 72 Hai Bà Trưng, TP. Hồ Chí Minh để chỉ đạo việc tiếp quản. Với nhiệm vụ quản lý, vận hành tốt hệ thống điện từ tay chính quyền cũ, vừa phát triển nguồn và lưới điện, bảo đảm cung cấp điện an toàn và liên tục cho miền Nam, phục vụ công cuộc cải tạo, xây dựng xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa.

Khi tiếp quản, hệ thống điện vốn nhỏ bé lại bị tàn phá nặng nề bởi bom đạn, đường dây bị đứt. Các nhà máy phát điện hoạt động trong tình trạng thiếu dầu, các linh kiện thiết bị, phụ tùng hư hỏng không có để thay thế, do đó việc khôi phục nhà máy và đường dây gặp rất nhiều khó khăn cả về kỹ thuật, điều kiện an ninh và vật chất.

Thống kê năm 1976, tổng công suất lắp đặt các trạm điện diesel ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên chỉ có 75,4 MW, sản lượng điện hàng năm chưa đến 100 triệu kWh. Ở miền Nam, sản lượng điện khoảng 1,3 tỷ kWh/năm nhờ có một số nhà máy nhiệt điện như Thủ Đức, Chợ Quán và các cụm diesel nhỏ lẻ cung cấp cho Sài Gòn và các vùng phụ cận. Tại Cần Thơ có nhiệt điện Trà Nóc cấp điện cho Cần Thơ, Long Xuyên, Rạch Giá, Sa Đéc và Vĩnh Long. Trên cao nguyên, thủy điện Đa Nhim cấp điện cho Đà Lạt, Tháp Chàm và Cam Ranh.

Nguồn điện đã hạn chế, lưới điện còn yếu kém, manh mún và thiếu liên kết. Lưới truyền tải 230kV, 66kV vận hành độc lập theo 3 miền là đông, tây và cao nguyên. Lưới điện phân phối tập trung chủ yếu tại TP. Hồ Chí Minh, còn khu vực nông thôn, miền núi hầu như chưa có điện mà chỉ thực sự bắt đầu sau năm 1975, đặc biệt từ năm 1995 trở đi.

Sau 40 năm thống nhất đất nước, thành tựu lớn nhất mà ngành điện đã làm được là mang lại ánh sáng điện - giấc mơ ngàn đời cho người dân miền Trung - Tây Nguyên và Nam bộ từ đô thị đến vùng nông thôn, miền núi, thậm chí hải đảo xa xôi như Lý Sơn, Phú Quý, Phú Quốc, Côn Đảo, Kiên Hải... Quan trọng hơn là mang đến niềm tin của người dân vào Đảng và Nhà nước. Đồng thời, tạo động lực to lớn trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, quốc phòng an ninh, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đất nước trong quá trình hội nhập.

Đến sự trưởng thành vượt bậc

Năm 1995, tỷ lệ số hộ dân có điện khu vực miền Nam đạt 37,08% thay vì 2,5% vào năm 1975. Kể từ năm 1995, hệ thống điện của khu vực miền Trung và miền Nam đã có bước phát triển vượt bậc cả nguồn và lưới, đặc biệt sau khi đường dây 500 kV Bắc - Nam đi vào vận hành. Tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm bình quân hàng năm trên 13%/năm, thậm chí khu vực miền Nam đạt 18,4%.

Báo cáo của Tổng công ty Điện lực miền Trung cho thấy, từ một hệ thống điện cũ nát, hiện nay công suất cực đại toàn khu vực miền Trung - Tây Nguyên đạt trên 2.047 MW, hệ thống lưới điện các cấp điện áp từ 110kV trở xuống đã vươn dài đến các địa phương, đã có 100% số huyện, 99,74% số xã, 98,23% số hộ được sử dụng điện lưới với tổng số khách hàng sử dụng điện hơn 3 triệu hộ.

Còn ở 21 tỉnh phía Nam thuộc địa bàn Tổng công ty Điện lực miền Nam quản lý, thời điểm năm 1975, mạng lưới truyền tải điện miền Nam chỉ có khoảng 800 km đường dây 230kV- 66 kV, 29 trạm biến áp các loại với tổng công suất khoảng 600 MVA thì đến đến nay, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đã phủ kín mọi nơi với hơn 146.000km đường dây và 142.358 trạm biến áp các loại; cung cấp điện 7,3 triệu hộ khách hàng. Như vậy 100% số xã với 98,7% hộ dân có điện, trong đó có trên 4,94 triệu hộ dân nông thôn (đạt tỷ lệ 97,92%).

Vũ Sơn