Phóng viên Báo Công Thương có cuộc trao đổi với TS. Chu Đức Tính, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh để cùng nhìn lại chặng đường 75 năm vẻ vang của ngành Công Thương Việt Nam.

TS Chu Đức Tính, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh trao đổi với phóng viên Báo Công Thương. Ảnh: Kim Yến
Sắc lệnh mang tính bước ngoặt
- Sắc lệnh 21/SL ký năm 1951 là một quyết định mang tính bước ngoặt. Ông có thể phân tích sâu hơn về tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi quyết định thành lập Bộ Công Thương ngay trong giai đoạn kháng chiến kiến quốc đầy gian khó?
TS. Chu Đức Tính: Có thể thấy đây là một tầm nhìn rất sâu rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi tên gọi chuyển từ Bộ Kinh tế sang Bộ Công Thương, Chính phủ và Bác Hồ đã khẳng định sự quan tâm đặc biệt đến hai lĩnh vực bổ trợ cho nhau đó là sản xuất và lưu thông.
Sản xuất hiện đại phải gắn liền với phân phối và trao đổi hàng hóa để phục vụ trực tiếp cho cuộc kháng chiến kiến quốc. Trong bối cảnh nhu cầu hậu cần cho quân đội và nhân dân ngày càng lớn, việc đẩy mạnh sản xuất hàng hóa trở thành yêu cầu cấp thiết. Bác coi trọng thương nghiệp không chỉ để làm giàu, mà trước hết là để phục vụ kháng chiến và kích thích sản xuất phát triển.
Tiết kiệm để ngành Công Thương bứt phá
- Trong bối cảnh ngành Công Thương đang chuyển dịch mạnh mẽ sang kinh tế xanh và sản xuất bền vững như hiện nay, theo ông, lời dạy của Người đã được hiện thực hóa và nâng tầm như thế nào?
TS. Chu Đức Tính: Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi tiết kiệm là quốc sách. Tiết kiệm ở đây bao gồm cả sức người, tài nguyên và của cải vật chất. Tiết kiệm sức người chính là sử dụng lao động khoa học và hợp lý: Việc đáng một người làm thì bố trí một người, việc cần mười người thì giao mười người làm. Bác nhấn mạnh, đất nước muốn phát triển thì phải thúc đẩy sản xuất, nhưng nếu sản xuất nhiều mà không tiết kiệm thì chẳng khác gì "thùng không đáy", gây lãng phí vô ích.
Với Người, tiết kiệm đồng nghĩa với tiêu dùng hợp lý. Việc gì đáng làm thì bao nhiêu tiền cũng phải chi, nhưng việc không đáng thì một xu cũng lãng phí. Đó là sự tiết kiệm dựa trên tính toán khoa học, chứ không phải bắt bộ đội hay nhân dân phải chịu đói khát… Trong xã hội hiện đại và hội nhập ngày nay, triết lý ấy cần được thực hiện hóa với việc đẩy mạnh kinh tế số và kinh tế xanh để đạt được hiệu quả tối ưu nhất.
Thứ nhất, tiết kiệm trong sản xuất công nghiệp: Trọng tâm là đổi mới công nghệ, sử dụng hiệu quả nguồn điện, nước và các loại nhiên liệu; đồng thời tăng cường năng lực tái chế chất thải công nghiệp. Cần kiên quyết hạn chế sản xuất dàn trải, kém hiệu quả để tập trung nâng cao năng suất lao động.
Thứ hai, tiết kiệm trong quản lý Nhà nước: Cắt giảm hội họp và các buổi lễ khởi công, khánh thành phô trương gây lãng phí, nhất là khi đất nước còn nhiều khó khăn. Bên cạnh việc nâng cao đạo đức công vụ, chống tham ô, lãng phí, cần đẩy mạnh chuyển đổi số để tiết kiệm thời gian và chi phí hành chính.
Thứ ba, tiết kiệm trong lưu thông và thương mại: Phải tìm cách giảm thiểu các chi phí trung gian không cần thiết, chống thất thoát và xây dựng hệ thống phân phối hiệu quả từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng. Cần gắn kết chặt chẽ giữa thương nghiệp quốc doanh với thương nghiệp ngoài quốc doanh; vừa phát huy vai trò chủ đạo của nhà nước, vừa phát triển kinh tế thị trường để đưa hàng hóa đến tay người dân hiệu quả.
Cuối cùng, tiết kiệm và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia; đẩy mạnh phát triển công nghệ xanh, khuyến khích sản xuất bền vững nhằm đảm bảo nguồn năng lượng lâu dài. Đồng thời, phải có phương án ứng phó kịp thời với những xung đột và biến động phức tạp trên trường quốc tế.

TS Chu Đức Tính, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ảnh: Kim Yến
Ngoại giao kinh tế, đưa hàng hoá Việt Nam ra thế giới
- Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặt nền móng cho ngoại giao kinh tế. Theo ông, tinh thần “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ trên thế giới” của Người đang được ngành Công Thương vận dụng ra sao để giúp hàng hóa Việt Nam “vượt sóng” vươn ra các thị trường khó tính nhất toàn cầu?
TS. Chu Đức Tính: Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người đặt nền móng cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại mà còn là vị Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tầm nhìn của Người về đối ngoại vô cùng toàn diện, bao quát từ ngoại giao chính trị, quân sự đến ngoại giao kinh tế và ngoại giao nhân dân.
Thấm nhuần tư tưởng đó, ngành Công Thương ngày nay đang đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế thông qua các Hiệp định thương mại tự do (FTA) và các hoạt động ký kết đa phương. Chúng ta không chỉ mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư mà còn khéo léo kết hợp giữa ngoại giao với xúc tiến thương mại. Đặc biệt, vai trò của các cơ quan Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài ngày càng được tăng cường, trở thành "cánh tay nối dài" thúc đẩy ngoại giao kinh tế giữa Việt Nam và thế giới.
Trong tiến trình đó, ngoại giao kinh tế phải luôn song hành với đảm bảo an ninh kinh tế và an ninh lương thực. Việc đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu chính là cách để Việt Nam tự chủ và chủ động ứng phó với mọi thách thức.
Thấm nhuần tinh thần "vì lợi ích nhân dân, vì lợi ích quốc gia", mọi hoạt động kinh tế hay đối ngoại hôm nay đều phải gắn chặt với lợi ích dân tộc, kết hợp nhuần nhuyễn sức mạnh nội lực với sức mạnh thời đại. Điều này được minh chứng qua những thành công của ngành Công Thương trong việc thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển thương mại điện tử và hợp tác quốc tế về năng lượng. Từ các dự án chuyển đổi xanh đến hợp tác năng lượng sạch, chúng ta đang gắn kết thực chất giữa kinh tế quốc gia với dòng chảy kinh tế toàn cầu.
Những giá trị mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra từ năm 1946 đến nay vẫn vẹn nguyên tính thời sự, là kim chỉ nam để ngành Công Thương vừa thúc đẩy kinh tế, thương mại, vừa tạo dựng niềm tin bền vững cho người tiêu dùng và quốc gia.
- Xin trân trọng cảm ơn ông!
75 năm, một chặng đường chưa phải là quá dài so với lịch sử dân tộc nhưng đủ để ngành Công Thương khẳng định vai trò là “xương sống” của nền kinh tế Việt Nam.




