Từng bước hoàn thiện hành lang cho thị trường carbon
Chia sẻ tại hội thảo trực tuyến “Cơ hội thị trường tín chỉ carbon đối với ngành cao su Việt Nam” do Hiệp hội Cao su Việt Nam (VRA), Forest Trends và Mạng lưới Cao su thiên nhiên bền vững tổ chức chiều 11/8, ThS. Nghiêm Phương Thúy, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, hiện có hai hướng chính để thương mại hóa tín chỉ carbon là giao dịch quốc tế và giao dịch trong nước.
Cây cao su có tiềm năng hấp thụ, lưu trữ carbon, song không phải toàn bộ lượng carbon lưu trữ đều có thể chuyển thành tín chỉ để giao dịch.
Với thị trường quốc tế, việc chuyển giao tín chỉ có thể thực hiện thông qua cơ chế hợp tác giữa các quốc gia theo Điều 6 Thỏa thuận Paris, trong đó có cơ chế tại Điều 6.2 và Điều 6.4. Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể tham gia các tiêu chuẩn carbon tự nguyện. Đối với thị trường trong nước, Việt Nam đã quy định cơ chế trao đổi, mua bán và bù trừ hạn ngạch phát thải. Sàn giao dịch carbon trong nước được khởi động từ cuối tháng 6/2026.
Đối với ngành cao su, lợi thế là chu kỳ sinh trưởng dài, sinh khối lớn và khả năng hấp thụ, lưu trữ carbon. Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu quả carbon phải được thực hiện trên toàn bộ chuỗi sản xuất. Do đó, giải pháp carbon đối với cao su cần kết hợp cả giảm phát thải và tăng hấp thụ, như tối ưu hóa sử dụng phân bón, nhiên liệu, phương thức canh tác, vận chuyển, chế biến hoặc bổ sung cây gỗ tại những khu vực phù hợp.
Tổng công ty Cao su Đồng Nai hiện quản lý khoảng 31.000 ha cao su, trong đó hơn 9.000 ha đã được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững theo tiêu chuẩn PEFC. ThS. Hoàng Bảo Luân, Phó Giám đốc Đội Khoa học - Công nghệ, Tổng công ty Cao su Đồng Nai, cho biết ngành cao su có một số lợi thế để tham gia thị trường carbon như khung pháp lý đang từng bước hoàn thiện, cây cao su có chu kỳ kinh doanh dài, sinh khối lớn và doanh nghiệp đã tích lũy lượng dữ liệu sản xuất trong nhiều năm. Tuy nhiên, từ thực tiễn nghiên cứu xây dựng dự án carbon, doanh nghiệp cũng nhận diện nhiều điểm nghẽn.
Trước hết là tư cách pháp lý và phân loại đất. Phần lớn diện tích cao su của doanh nghiệp được Nhà nước cho thuê và quy hoạch là đất trồng cây lâu năm. Vì vậy, cần làm rõ cao su trên loại đất này có thuộc đối tượng áp dụng phương pháp IFM hay không và doanh nghiệp thuê đất có đủ tư cách đăng ký dự án carbon hay không.
Một vấn đề khác là rủi ro từ quy hoạch sử dụng đất. Một số diện tích cao su có thể được chuyển đổi mục đích sử dụng, trong khi dự án carbon thường yêu cầu thời gian duy trì dài. Do đó, cần xác định rõ trách nhiệm đối với lượng tín chỉ đã phát hành, chuyển giao nếu diện tích dự án bị thu hồi hoặc thay đổi mục đích sử dụng.
Hiệu quả kinh tế cũng là bài toán doanh nghiệp phải tính toán. Tổng công ty Cao su Đồng Nai đã nhiều lần cải tiến quy trình trồng, chăm sóc và quản lý vườn cây. Vì vậy, lượng carbon có thể tăng thêm so với phương thức sản xuất hiện tại cần được lượng hóa cụ thể và đặt trong tương quan với chi phí tư vấn, đo đạc, giám sát, thẩm định, xác minh.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp quan tâm đến cơ chế phân bổ đóng góp vào mục tiêu quốc gia về giảm phát thải (NDC), lượng tín chỉ được công nhận, phân bổ và chuyển giao sau khi tính đến phần đóng góp cho mục tiêu quốc gia. Khả năng tiêu thụ và giá tín chỉ cũng là yếu tố cần tính đến. Với các doanh nghiệp tiên phong, việc xác định giá theo phương pháp so sánh có thể gặp khó khăn do thiếu dự án tương đồng. Nếu chi phí hình thành tín chỉ cao hơn mức giá thị trường chấp nhận, hiệu quả thương mại của dự án sẽ bị hạn chế.
Đáng chú ý, doanh nghiệp đặt vấn đề về mối quan hệ giữa tín chỉ carbon và dấu chân carbon của sản phẩm. Nếu lượng giảm phát thải đã được chuyển thành tín chỉ và giao dịch, doanh nghiệp cần được làm rõ liệu kết quả giảm phát thải tương ứng có tiếp tục được sử dụng để giảm dấu chân carbon của sản phẩm xuất khẩu hay không.
Cần lựa chọn đúng mô hình và phương pháp tính
Từ thực tiễn triển khai, Tổng công ty Cao su Đồng Nai kiến nghị làm rõ tư cách pháp lý của doanh nghiệp sử dụng đất trồng cây lâu năm; nghiên cứu hướng dẫn phù hợp đối với cây công nghiệp lâu năm như cao su; đồng thời quy định rõ trách nhiệm trong trường hợp diện tích dự án bị Nhà nước thu hồi. Doanh nghiệp cũng đề xuất nghiên cứu xây dựng dự án carbon quy mô cấp Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam thay vì triển khai nhiều dự án nhỏ lẻ. Cách tiếp cận này có thể giúp chia sẻ chi phí tư vấn, đo đạc, thẩm định, xác minh và nâng quy mô tín chỉ.
Liên quan đến vấn đề này, TS. Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận quản lý rừng bền vững cho rằng thời điểm được cấp tín chỉ carbon phụ thuộc vào loại hình dự án và giai đoạn báo cáo kết quả giảm phát thải, hấp thụ carbon. Một dự án carbon phải trải qua các bước xây dựng văn kiện dự án, thẩm định, đăng ký, triển khai các biện pháp kỹ thuật, sau đó đo đạc và xây dựng báo cáo kết quả. Báo cáo tiếp tục được thẩm định, xác minh trước khi tín chỉ được cấp. “Không phải cứ có carbon trong cây là có tín chỉ. Dự án phải chứng minh được kết quả giảm phát thải hoặc tăng hấp thụ theo phương pháp luận và được xác minh”, TS. Vũ Tấn Phương nhấn mạnh.
TS. Vũ Tấn Phương cho rằng, với những diện tích cao su đã có sinh khối lớn và được quản lý tương đối tốt, dư địa tạo thêm tín chỉ từ sinh khối có thể không lớn. Khi đó, doanh nghiệp nên cân nhắc giữa mục tiêu kinh doanh tín chỉ và mục tiêu giảm phát thải, sản xuất xanh, nâng cao thương hiệu. “Doanh nghiệp cần xác định rõ mục tiêu là kinh doanh tín chỉ carbon hay hướng tới sản xuất xanh, phát thải thấp để nâng cao thương hiệu. Hai mục tiêu này có cách tiếp cận khác nhau”, ông Vũ Tấn Phương nói.
Doanh nghiệp cũng phải nhận diện các rủi ro của dự án, trong đó có nguy cơ chuyển đổi mục đích sử dụng đất hoặc thu hồi đất. Những rủi ro này sẽ được tính đến trong quá trình xác định lượng tín chỉ có thể giao dịch, thông qua cơ chế dự phòng theo tiêu chuẩn áp dụng. Quy mô dự án cũng cần được cân nhắc. Dự án lớn có thể giúp giảm chi phí giao dịch, nâng quy mô tín chỉ và tăng khả năng tác động. Tuy nhiên, mô hình này đồng thời đòi hỏi năng lực quản lý, giám sát và phối hợp giữa nhiều đơn vị;...
Về khả năng xác định lượng carbon hấp thụ bình quân trên một ha cao su mỗi năm, TS. Vũ Tấn Phương cho rằng hoàn toàn có thể tính toán. Tuy nhiên, tín chỉ thường được xác nhận theo giai đoạn báo cáo, thay vì bắt buộc phải tính riêng cho từng năm.
Ở góc độ rộng hơn, TS. Vũ Tấn Phương cũng lưu ý cần phân biệt rõ tín chỉ carbon và dấu chân carbon. Dấu chân carbon phải được tính trên toàn bộ chuỗi từ trồng, chăm sóc, khai thác, vận chuyển đến chế biến sản phẩm. Đây là chỉ số phản ánh lượng phát thải trên một đơn vị sản phẩm và ngày càng có ý nghĩa đối với khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Theo các chuyên gia, tín chỉ carbon có thể mở thêm một hướng tạo giá trị cho ngành cao su, nhưng chưa nên được xem là nguồn thu ngắn hạn. Quan trọng hơn, quá trình quản trị carbon có thể thúc đẩy doanh nghiệp cải thiện phương thức sản xuất, giảm phát thải, minh bạch chuỗi cung ứng và nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu mới của thị trường. Trong bối cảnh yêu cầu về phát thải và dấu chân carbon ngày càng trở thành một yếu tố cạnh tranh, việc chủ động quản lý carbon từ vườn cây đến nhà máy và sản phẩm cuối cùng sẽ giúp ngành cao su vừa khai thác cơ hội từ thị trường carbon, vừa nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm.
Cây cao su có khả năng hấp thụ, lưu trữ carbon nhờ chu kỳ sinh trưởng dài và sinh khối lớn. Tuy nhiên, lượng carbon được lưu trữ trong vườn cây không đồng nghĩa toàn bộ có thể chuyển thành tín chỉ carbon để giao dịch. Muốn hình thành tín chỉ, dự án phải chứng minh được lượng phát thải giảm hoặc lượng carbon hấp thụ tăng thêm so với kịch bản cơ sở, đồng thời đáp ứng các yêu cầu về pháp lý, phương pháp luận, đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh.