Ngân hàng giữ 'thế cân bằng' giữa tăng trưởng và ổn định vĩ mô

Từ điều hành lãi suất đến định hướng tín dụng, ngành Ngân hàng đang nỗ lực giữ thế cân bằng cho mục tiêu tăng trưởng bền vững của nền kinh tế.

Áp lực tăng trưởng cao trong khi dư địa chính sách tiền tệ không còn nhiều đang đặt ngành Ngân hàng trước bài toán khó: vừa hỗ trợ nền kinh tế tăng tốc, vừa kiểm soát lạm phát và giữ ổn định vĩ mô. Tại Tọa đàm “Vai trò ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” ngày 8/5, nhiều chuyên gia và đại diện ngân hàng cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới, điều quan trọng không chỉ nằm ở dòng vốn mà còn ở khả năng phối hợp chính sách, đổi mới mô hình tăng trưởng và dẫn dắt nguồn lực vào các lĩnh vực ưu tiên.

Tọa đàm “Vai trò ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”.

Tọa đàm “Vai trò ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”.

Bài toán khó của điều hành chính sách tiền tệ

Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tiếp tục biến động mạnh bởi xung đột địa chính trị, áp lực lạm phát và xu hướng điều chỉnh chính sách tiền tệ tại nhiều nền kinh tế lớn, công tác điều hành của Ngân hàng Nhà nước đang chịu sức ép ngày càng lớn. Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ nhận định, mục tiêu vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ tăng trưởng đang trở thành “bộ ba bất khả thi” đối với điều hành chính sách tiền tệ hiện nay.

Theo ông Quang, căng thẳng tại Trung Đông khiến giá dầu và lạm phát toàn cầu biến động. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã điều chỉnh dự báo lạm phát toàn cầu lên khoảng 4,4%, cao hơn mức thực tế năm 2025 là 4,1%. Điều này buộc nhiều ngân hàng trung ương phải thay đổi định hướng điều hành lãi suất, trong đó có Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed). Những thay đổi này kéo theo biến động về dòng vốn, lãi suất và tỷ giá, tạo áp lực đáng kể lên các nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam.

Ở trong nước, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ đặt ra cho năm 2026 mà còn cho cả giai đoạn 5 năm tới. Tuy nhiên, theo ông Phạm Chí Quang, tăng trưởng cao trong điều kiện áp lực lạm phát lớn khiến việc điều hành chính sách tiền tệ trở nên khó khăn hơn rất nhiều. “Điều này đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác”, ông Quang nhấn mạnh.

Một trong những vấn đề được nhắc tới nhiều tại tọa đàm là câu chuyện neo giữ kỳ vọng thị trường. Theo lãnh đạo Vụ Chính sách tiền tệ, tại Việt Nam, kỳ vọng về tỷ giá và lạm phát luôn hiện hữu và rất khó kiểm soát. Vì vậy, việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát tốt lạm phát và điều hành chính sách chủ động, linh hoạt có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm tránh gây ra các cú sốc cho nền kinh tế.

Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ phát biểu tại tọa đàm.

Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ phát biểu tại tọa đàm.

Liên quan đến mặt bằng lãi suất, ông Phạm Chí Quang cho biết, Ngân hàng Nhà nước thời gian qua đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm giảm lãi suất cho vay và hỗ trợ doanh nghiệp. Từ năm 2023 đến nay, cơ quan điều hành duy trì ổn định lãi suất điều hành, đồng thời hỗ trợ thanh khoản thông qua nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ điều hành khác.

Đáng chú ý, sau cuộc họp ngày 9/4 giữa Ngân hàng Nhà nước với 46 ngân hàng thương mại lớn, gần như toàn bộ các ngân hàng đã đồng thuận giảm lãi suất huy động ở các kỳ hạn từ 6 - 12 tháng với mức giảm từ 0,5 - 1%/năm. Theo thống kê được ông Quang công bố, lãi suất huy động mới phát sinh hiện khoảng 5,7%, giảm khoảng 0,26% so với cuối tháng 3/2026.

“Nếu sự lan tỏa của lãi suất huy động giảm tiếp tục đi vào cơ cấu nguồn vốn của các tổ chức tín dụng thì chúng tôi hoàn toàn tin tưởng lãi suất cho vay sẽ tiếp tục giảm để hỗ trợ nền kinh tế”, ông Phạm Chí Quang bày tỏ.

Theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, tăng trưởng tín dụng năm nay khoảng 15%, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng của nền kinh tế, đồng thời kiểm soát chặt chẽ các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro nhằm bảo đảm an toàn hệ thống.

Dòng vốn hướng vào động lực tăng trưởng mới

Ở góc độ chiến lược phát triển kinh tế, ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính, Bộ Tài chính cho rằng, giai đoạn 2026 - 2030 sẽ mang ý nghĩa bước ngoặt đối với nền kinh tế Việt Nam. Đây là giai đoạn đòi hỏi sự điều chỉnh toàn diện từ cách tiếp cận đến khâu thực thi nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao và hướng tới nhóm nước phát triển có thu nhập cao.

Ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính, Bộ Tài chính phát biểu.

Ông Nguyễn Quốc Anh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính, Bộ Tài chính phát biểu.

Theo ông Nguyễn Quốc Anh, dù kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 vẫn giữ được nền tảng ổn định với tăng trưởng bình quân trên 6%, quy mô nền kinh tế vượt 500 tỷ USD và kim ngạch xuất nhập khẩu trên 900 tỷ USD, song nền kinh tế vẫn tồn tại nhiều hạn chế nội tại. Hệ số sử dụng vốn còn cao, năng suất lao động thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực, trong khi lợi thế lao động giá rẻ và dân số trẻ đang giảm dần do già hóa dân số.

“Тăng trưởng không thể đơn thuần dựa vào sự gia tăng về số lượng mà phải hướng tới chất lượng, chuyển dịch từ mô hình phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế”, ông Nguyễn Quốc Anh nhấn mạnh.

Theo vị chuyên gia này, để duy trì tốc độ tăng trưởng cao, nền kinh tế cần tập trung vào 8 động lực cốt lõi, trong đó cải cách thể chế được xem là dư địa quan trọng bậc nhất. Việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ, xử lý các điểm nghẽn pháp lý sẽ trực tiếp giải phóng nguồn lực cho khu vực tư nhân, khu vực hiện đóng góp khoảng 50% GDP và chiếm 85% lực lượng lao động.

Bên cạnh đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cũng được xem là động lực mới của tăng trưởng. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế số khoảng 15 - 20% mỗi năm và quy mô dự kiến đạt 45 tỷ USD trong vài năm tới, đây được đánh giá là lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng lớn cho nền kinh tế.

Từ thực tiễn hoạt động ngân hàng, bà Vũ Thị Hồng Nhung, Trưởng phòng Chính sách sản phẩm bán buôn Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) cho rằng, vai trò của ngân hàng hiện nay không chỉ dừng lại ở việc cung cấp tín dụng mà phải xây dựng hệ sinh thái tài chính đồng hành cùng doanh nghiệp trong quản trị dòng tiền, tối ưu chi phí và nâng cao khả năng tiếp cận vốn.

Bà Vũ Thị Hồng Nhung, Trưởng phòng Chính sách sản phẩm bán buôn Vietcombank chia sẻ tại toạ đàm.

Bà Vũ Thị Hồng Nhung, Trưởng phòng Chính sách sản phẩm bán buôn Vietcombank chia sẻ tại toạ đàm.

Theo đại diện Vietcombank, việc giảm lãi suất huy động sau cuộc họp với Ngân hàng Nhà nước cho thấy quyết tâm rất lớn của hệ thống ngân hàng trong hỗ trợ nền kinh tế và thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số. Trong bối cảnh lãi suất huy động từng có xu hướng tăng cao đầu năm 2026, việc chủ động giảm lãi suất được xem là giải pháp quan trọng nhằm ổn định chi phí vốn cho doanh nghiệp và tránh cuộc đua lãi suất không mong muốn giữa các ngân hàng.

“Quan trọng hơn, dòng tiền sẽ hướng vào nền kinh tế thực thay vì chỉ đưa vào trông chờ lãi ngân hàng. Đây cũng là yếu tố giúp hệ thống ngân hàng giảm áp lực nợ xấu trong tương lai”, bà Vũ Thị Hồng Nhung nhận định.

Trong khi đó, với khu vực nông nghiệp, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) tiếp tục khẳng định vai trò “bệ đỡ vốn” cho khu vực tam nông. Ông Vương Văn Quý, Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank cho biết, đến ngày 30/4/2026, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn của Agribank đạt khoảng 1,3 triệu tỷ đồng, chiếm 64,2% tổng dư nợ của ngân hàng và tương đương khoảng 30% dư nợ nông nghiệp, nông thôn toàn hệ thống.

Không chỉ cung cấp vốn cho sản xuất truyền thống, Agribank còn định hướng dòng vốn vào các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn và các mô hình liên kết theo chuỗi nhằm thúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững.

Đáng chú ý, theo ông Vương Văn Quý, Agribank đang chuyển dần từ tư duy cho vay dựa trên tài sản thế chấp sang cho vay dựa trên dòng tiền. “Đây không chỉ là thay đổi về phương thức cấp tín dụng mà còn là sự thay đổi trong tư duy phát triển ngân hàng nhằm phù hợp với xu hướng phát triển trong giai đoạn tới”, ông Quý chia sẻ.

Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ: Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành linh hoạt, bám sát thị trường và duy trì chênh lệch lãi suất hợp lý giữa đồng Việt Nam và USD để giữ sức hấp dẫn của tiền đồng, qua đó góp phần giảm tình trạng đôla hóa trong nền kinh tế.

Hoàng Lan

Có thể bạn quan tâm