| Ảnh minh họa. Nguồn Internet |
Để đáp ứng được mục tiêu đặt ra, góp phần xử lý hiệu quả vấn nạn mất vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay, các quy định trong Thông tư của Bộ Y tế cần phải bảo đảm tính khả thi, minh bạch, cho phép xử lý triệt để các trường hợp vi phạm an toàn thực phẩm, đồng thời tạo ra được cơ chế phù hợp khuyến khích các chủ thể liên quan tự nguyện tuân thủ pháp luật.
Thông tư của Bộ Y tế đang soạn thảo có phạm vi áp dụng là “thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói chứa đựng thực phẩm không bảo đảm an toàn thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế”. Tuy nhiên, thế nào là “sản phẩm không bảo đảm an toàn” và sản phẩm nào thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế thì chưa được cụ thể hóa.
Chủ thể sẽ phải thực thi theo Thông tư là hàng triệu người kinh doanh ăn uống, không phải ai cũng có đủ kiến thức để kết hợp nhiều quy định pháp luật trong nhiều văn bản, vì vậy cần viện dẫn quy định liên quan của Luật An toàn thực phẩm và hướng dẫn cụ thể, rõ ràng, thuận lợi cho việc thực thi. Cần chú ý là Thông tư này chỉ áp dụng cho việc thu hồi và xử lý các sản phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế, trong khi theo Điều 55 Luật An toàn thực phẩm không phải sản phẩm không an toàn nào cũng bị thu hồi (chỉ bị thu hồi trong 06 trường hợp).
| Thực phẩm không đảm bảo an toàn đang là mối quan tâm lớn của dư luận và xã hội. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó nguyên nhân quan trọng là do công tác quản lý, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm của các Bộ, ngành chức năng có liên quan còn lỏng lẻo, yếu kém. |
Theo VCCI, Bộ Y tế cần quy định rõ các trường hợp bắt buộc phải thu hồi (theo Điều 55 Luật An toàn thực phẩm), sản phẩm nào thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Y tế (theo Điều 33 Luật An toàn thực phẩm); xác định rõ sản phẩm nào thuộc phạm vi điều chỉnh để thực thi hiệu quả, bởi quy trình thu hồi, xử lý trong dự thảo Thông tư đưa ra khá phức tạp. Nếu phạm vi sản phẩm thu hồi và xử lý quá rộng thì khó có tính khả thi, cơ quan có thẩm quyền sẽ không đủ lực lượng, thời gian, nguồn lực để phê duyệt, theo dõi, giám sát… tất cả các trường hợp thuộc diện phải thu hồi theo quy trình.
Với chức năng hướng dẫn chi tiết thực thi các văn bản luật cao hơn, dự thảo Thông tư đưa ra 2 hình thức tự nguyện thu hồi và bắt buộc thu hồi, nhưng chưa làm rõ được hơn so với quy định trong Luật An toàn thực phẩm. Chẳng hạn, hình thức thu hồi bắt buộc chưa làm rõ được cơ quan nào có thẩm quyền yêu cầu thu hồi, ra quyết định thu hồi khi nào, theo điều kiện gì...; chưa quy định rõ những trường hợp nào thì phải tự nguyện thu hồi, trường hợp nào thì cơ quan chức năng áp dụng hình thức bắt buộc thu hồi.
Luật An toàn thực phẩm còn có 2 hình thức thu hồi khác là “cưỡng chế thu hồi trong trường hợp quá hạn để tự thu hồi” và “cưỡng chế thu hồi trong trường hợp nghiêm trọng”. Trường hợp quá thời hạn thu hồi mà tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm không thực hiện việc thu hồi thì bị cưỡng chế. Điều này rất có ý nghĩa khi các tổ chức, cá nhân vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm hiện nay rất ít tự mình thu hồi. Trường hợp thực phẩm có nguy cơ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng hoặc các trường hợp khẩn cấp khác, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trực tiếp tổ chức thu hồi, xử lý và yêu cầu tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải thanh toán chi phí…”. Trong khi đó, dự thảo Thông tư chưa có hướng dẫn ai, cơ quan nào sẽ thực hiện cưỡng chế và chi phí ai chịu, thời gian (quá hạn tự thu hồi bao lâu thì bị cưỡng chế), cách thức thực hiện cưỡng chế thu hồi như thế nào.../.




