Đường dây nóng: 0866.59.4498 - Thứ năm 28/10/2021 15:13

Mỹ và các quốc gia Đông Nam Á: Xây dựng mối quan hệ vì lợi ích chung

16:00 | 30/08/2021
Phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris đã có chuyến công du Đông Nam Á: Thăm Singapore (22-24/8) và Việt Nam (24-26/8). Mục tiêu chính sách ngoại giao là xây dựng quan hệ với khu vực kinh tế chiến lược quan trọng nhất của thế giới.

Mở rộng hợp tác kinh tế

Quan hệ thương mại giữa Mỹ và hai nước Đông Nam Á đặc biệt sôi động trong vài năm qua, ngay cả khi đối mặt với đại dịch toàn cầu. Theo Cơ quan Đại diện Thương mại Mỹ (USTR), Singapore là đối tác thương mại lớn thứ 17 của Mỹ với khoảng 60 tỷ USD thương mại song phương mỗi năm, dẫn đến thặng dư 4 tỷ USD có lợi cho Singapore. Năm 2020, nhập khẩu của Mỹ từ Singapore chỉ đạt hơn 31 tỷ USD, tăng so với khoảng 26,5 tỷ USD vào năm 2019. Ngược lại, xuất khẩu của Mỹ sang Singapore giảm xuống 27 tỷ USD trong năm 2020, giảm so với 31 tỷ USD của năm 2019. Mức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Mỹ vào Singapore khá lớn, lên tới 288 tỷ USD vào năm 2019, chủ yếu nằm ở các giao dịch liên công ty giữa các chi nhánh của Mỹ có trụ sở tại cả hai quốc gia.

Mỹ và các quốc gia Đông Nam Á: Xây dựng mối quan hệ vì lợi ích chung

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tiếp Phó Tổng thống Hoa Kỳ Kamala Harris (ngày 25/8). Ảnh: TTXVN

Trái ngược hoàn toàn với Singapore, tổng vốn FDI của Mỹ vào Việt Nam chỉ ở mức 2,6 tỷ USD trong năm 2019. Trên thực tế, vốn FDI đã giảm 8,2% so với năm trước. Tuy nhiên, mức nhập khẩu của Mỹ từ Việt Nam cao hơn nhiều so với Singapore, đạt mức cao kỷ lục 84 tỷ USD vào năm 2020, tăng từ khoảng 70 tỷ USD của năm trước đó. Phần lớn hàng nhập khẩu bao gồm máy móc điện và cơ khí, cũng như đồ nội thất gia dụng... Do xuất khẩu của Mỹ sang Việt Nam trung bình tương đối giảm 10 tỷ USD mỗi năm, thâm hụt thương mại của Mỹ với Việt Nam đã tăng vọt trong vài năm qua, đạt mức cao kỷ lục 73 tỷ USD vào năm 2020, tăng từ 58 USD vào năm 2019.

Củng cố quan hệ trong đại dịch

Trong chuyến công du khu vực của Phó Tổng thống Mỹ, các cuộc thảo luận của bà Harris với các nhà lãnh đạo Singapore và Việt Nam liên quan đến các thỏa thuận về phát triển bền vững, các giải pháp carbon thấp và việc làm trong khu vực kinh tế xanh. Các cuộc thảo luận cũng bao gồm việc thúc đẩy thương mại kỹ thuật số và hợp tác trong việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế bao gồm các công nghệ mới nổi như trí tuệ nhân tạo và blockchain, quan hệ đối tác y tế trong kiểm soát đại dịch và hỗ trợ y tế hứa hẹn tăng cường triển khai vắc-xin do Mỹ sản xuất.

Việc cung cấp hàng chục triệu liều vắc-xin do Mỹ sản xuất cho các nước Đông Nam Á trước chuyến thăm chính thức của bà Harris tới khu vực, đã được Chính phủ các nước ASEAN hoan nghênh. Biến thể Delta đã ảnh hưởng đáng kể đến khả năng đối phó với các tác động tiêu cực đến sức khỏe của khu vực, bao gồm cả áp lực lớn đối với các bệnh viện do mức độ tiêm chủng thấp ở hầu hết các quốc gia, ngoại trừ Singapore. Đặc biệt nghiêm trọng đối với khu vực, sự chênh lệch kinh tế do tái áp đặt các biện pháp đóng cửa và trên quy mô rộng hơn so với các biện pháp áp đặt vào năm ngoái, đã khiến các nhà máy và cơ sở sản xuất phải đóng cửa trên diện rộng. Trở lại năm 2020, các trung tâm sản xuất đang phát triển của Đông Nam Á được hưởng lợi từ sự bùng nổ xuất khẩu trong khu vực, vào thời điểm đó, khi các nền kinh tế phương Tây trải qua một đợt tăng tiêu dùng dẫn đến nhập khẩu kỷ lục hàng gia dụng và thiết bị bảo vệ sức khỏe thiết yếu từ khu vực.

Trong bối cảnh đó, các hoạt động ngoại giao cấp cao của bà Kamala Harris tới Singapore và Việt Nam, khi chính quyền Mỹ có những cam kết gần đây với khu vực, liên quan đến việc cung cấp quốc phòng, y tế và các hợp tác khác, đã trở thành trung tâm của một chính sách kinh tế tổng thể và đầy tham vọng trong việc hỗ trợ Đông Nam Á trở thành một chuỗi cung ứng sản xuất lớn thay thế cho Trung Quốc.

Quản lý chuỗi cung ứng và chiến lược Trung Quốc +1

Theo Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), đại dịch Covid-19 toàn cầu và sự cạnh tranh chiến lược ngày càng gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc đã thúc đẩy nhu cầu tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu của Mỹ. Trong thời kỳ của chính quyền Trump, một số chính sách này liên quan đến các khái niệm "reshoring" hoặc "onshoring", thường bao gồm việc cung cấp các ưu đãi cho các công ty Mỹ chuyển hoạt động sản xuất ở nước ngoài, chủ yếu từ Trung Quốc, trở lại Mỹ.

Các chiến lược khác cũng liên quan đến “near-shoring”, theo đó các công ty Mỹ sẽ được khuyến khích thành lập ở các nước láng giềng, chẳng hạn như Canada hoặc Mexico, để tận dụng các nền tảng sản xuất tương đối thấp hơn ở Mỹ trong khi vẫn đảm bảo các lợi ích thương mại theo Hiệp định Mỹ - Mexico – Canada (USMCA) đã thống nhất. Hầu hết các chiến lược chuỗi cung ứng của Mỹ được thực hiện trong thời chính quyền Trump không cho thấy sự hồi hương đáng kể của các công ty Mỹ từ các trung tâm sản xuất ở Trung Quốc. Để thay thế các chương trình này, chính quyền Biden đã ngày càng khai thác những điểm đáng giá của chiến lược “Trung Quốc + 1”. Chiến lược này liên quan đến việc các công ty Mỹ có sự hiện diện sản xuất ở Trung Quốc cũng thiết lập cơ sở sản xuất ở Đông Nam Á do khu vực này khó có thể thay thế hoàn toàn Trung Quốc trong thời gian gần và trung hạn. Tuy nhiên, bằng cách thiết lập một giải pháp thay thế phù hợp và đáng tin cậy trong nền kinh tế ASEAN, có thể dự đoán rằng Chính phủ Mỹ có lập trường mạnh mẽ hơn để tác động đến cộng đồng doanh nghiệp nhằm ngày càng chuyển ra khỏi Trung Quốc vào ASEAN.

Một ví dụ thành công của chiến lược Trung Quốc +1 cho đến nay là trong thương mại điện tử quốc tế. Năm 2019, nhập khẩu của Mỹ đối với các sản phẩm này từ Trung Quốc giảm, trong khi lượng mua tăng từ các nền kinh tế Đông Nam Á như Malaysia, Thái Lan, Philippines, Indonesia. Mặc dù các nền kinh tế này là những nước nhận đáng kể đầu tư tư nhân của Mỹ, nhưng họ đã không thể hấp thụ hoàn toàn việc di dời các công ty Mỹ đang hoạt động tại Trung Quốc trong nhiều năm.

Việt Nam được cho là quốc gia có lợi thế của khu vực trong chiến lược Trung Quốc +1: hưởng lợi từ chi phí lao động thấp khoảng bằng một nửa ở Trung Quốc, đồng thời nâng cao kỹ năng và hiệu quả. Ngoài ra, Việt Nam đã tiến hành đầu tư mở rộng cơ sở hạ tầng như đường giao thông chính, cảng và lưới điện trong thập kỷ qua. Đối với các công ty Mỹ, Việt Nam cũng có một thị trường trong nước đang phát triển và trẻ trung.

Do đó, sứ mệnh của Phó Tổng thống Mỹ Harris tới Đông Nam Á lần này cũng giống như việc phát triển năng lực chuỗi cung ứng của các nền kinh tế Đông Nam Á để cho phép các công ty Mỹ lựa chọn hiệu quả hơn các đối tác doanh nghiệp địa phương mà không chỉ dựa vào Trung Quốc, cũng như thúc đẩy môi trường, y tế và các mối quan hệ đối tác khác trong khu vực.

Các nhà đầu tư và doanh nghiệp quốc tế có thể mong đợi sự chú trọng mới của Chính phủ Mỹ vào sức mạnh kinh tế mềm, đặc biệt là ở ASEAN, sẽ mang lại những lợi ích đáng kể trong những năm tới.

Việt Dũng