Mô hình lúa xanh tại Ninh Bình: Giảm chi phí, nâng giá trị hạt gạo

Mô hình canh tác lúa xanh tại Ninh Bình giúp giảm bình quân 23,6% chi phí sản xuất, mở hướng sử dụng hiệu quả vật tư và tuần hoàn phụ phẩm.

Giảm chi phí đầu vào, cải thiện hiệu quả sản xuất

Ngày 16/10, tại Trung tâm Đổi mới Sáng tạo Nông nghiệp Xanh, xã Nghĩa Sơn, tỉnh Ninh Bình, Viện Nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình và Công ty Cổ phần Tập đoàn Đầu tư và Phát triển Nông nghiệp Xanh Việt Nam (VAG Group) tổ chức hội nghị tổng kết mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, xanh và bền vững vụ Mùa năm 2026.

Hội nghị tổng kết mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, xanh và bền vững vụ Mùa năm 2026.

Hội nghị tổng kết mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, xanh và bền vững vụ Mùa năm 2026.

Mô hình được triển khai trên diện tích 2,2 ha, sử dụng giống lúa LP5, gieo sạ từ tháng 7/2026. Điểm đáng chú ý của mô hình là áp dụng phương pháp gieo sạ hàng bằng máy kết hợp vùi phân, thay cho các phương thức gieo cấy truyền thống. Giải pháp do IRRI và Công ty Máy nông nghiệp Tư Sang phát triển, kết hợp quản lý dinh dưỡng theo nguyên tắc 4R nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, hạn chế thất thoát và tạo điều kiện cho cây lúa phát triển.

Theo số liệu theo dõi, phương pháp sạ hàng kết hợp vùi phân giúp giảm chi phí sản xuất từ 8,6% đến 45,7%, bình quân 23,6%, tương đương khoảng 9,3 triệu đồng/ha so với các phương thức canh tác phổ biến như sạ lan, cấy máy và cấy tay. Lợi nhuận ròng tăng hơn 5 triệu đồng/ha. Mức tiết kiệm tập trung ở hai khoản chi phí chính. Chi phí gieo cấy giảm 68–77%, từ hơn 5 triệu đồng xuống còn khoảng 1,67 triệu đồng/ha. Chi phí phân bón giảm 29–58%, từ mức bình quân 9,7 triệu đồng xuống còn 5,7 triệu đồng/ha.

Kết quả bước đầu cho thấy cơ giới hóa không chỉ góp phần giảm nhu cầu lao động mà còn giúp kiểm soát chi phí đầu vào. Việc vùi phân cùng lúc gieo sạ hạn chế phân bón thất thoát trên bề mặt, trong khi cách bố trí hàng rộng - hẹp giúp cây lúa tiếp nhận ánh sáng tốt hơn, ruộng thông thoáng và bộ rễ phát triển sâu, khỏe. Những yếu tố này có thể góp phần tăng khả năng chống đổ ngã, giảm tổn thất khi thu hoạch.

TS. Nguyễn Văn Hùng, Chuyên gia khoa học cao cấp của IRRI, cho biết giá trị của mô hình nằm ở việc kết hợp cơ giới hóa gieo sạ, vùi phân, quản lý dinh dưỡng chính xác và tuần hoàn rơm rạ thành một quy trình canh tác phù hợp với điều kiện sinh thái, tập quán sản xuất tại đồng bằng sông Hồng. Việc thu thập dữ liệu trực tiếp trên đồng ruộng giúp các bên đánh giá hiệu quả sử dụng đầu vào, quá trình sinh trưởng của cây lúa và khả năng vận hành của từng giải pháp. Đây cũng là cơ sở để tiếp tục điều chỉnh các thông số kỹ thuật trước khi xem xét mở rộng quy mô.

Tận dụng rơm rạ, hướng tới canh tác tuần hoàn

Bên cạnh mục tiêu giảm chi phí trong quá trình sản xuất, mô hình tại Nghĩa Sơn đặt ra yêu cầu tận dụng phụ phẩm sau thu hoạch, trong đó rơm rạ được xem là nguồn sinh khối có thể thu gom, xử lý để sản xuất phân hữu cơ, thay vì đốt bỏ hoặc thải ra môi trường.

Mô hình lúa xanh ở Ninh Bình giúp giảm chi phí, mở hướng sản xuất tuần hoàn.

Mô hình lúa xanh ở Ninh Bình giúp giảm chi phí, mở hướng sản xuất tuần hoàn.

Cách tiếp cận này hướng tới sử dụng hiệu quả tài nguyên trong toàn bộ chu kỳ sản xuất: giảm đầu vào không cần thiết, thu hồi phụ phẩm và bổ sung chất hữu cơ cho đất. Nếu được tổ chức phù hợp, việc tận dụng rơm rạ còn có thể tạo thêm giá trị kinh tế cho nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp địa phương, đồng thời góp phần giảm tình trạng đốt phụ phẩm sau thu hoạch.

Theo ông Nguyễn Quang Trường, Tổng Giám đốc VAG Group, mô hình tại Nghĩa Sơn là bước đầu để các bên phối hợp hoàn thiện phương thức sản xuất lúa sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, nâng cao giá trị nông sản và thu nhập cho người trồng lúa. Thời gian tới, VAG Group dự kiến phối hợp với IRRI và các đối tác tiếp tục kiểm chứng mô hình trong vụ Xuân năm 2027, xây dựng các điểm liên kết với hợp tác xã tại Ninh Bình. Định hướng đặt ra là từng bước hình thành vùng nguyên liệu lúa xanh, chất lượng cao, có truy xuất nguồn gốc, gắn sản xuất với thu hoạch, tiêu thụ và tái sử dụng phụ phẩm.

Từ góc độ quản lý địa phương, ông Nguyễn Sinh Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình, cho rằng khả năng nhân rộng phải được xem xét trên cơ sở hiệu quả thực tế và mức độ phù hợp với điều kiện sản xuất của từng vùng. Kết quả mô hình cung cấp thêm dữ liệu để ngành nông nghiệp đánh giá các giải pháp giảm phụ thuộc vào lao động, sử dụng vật tư hiệu quả và phát triển sản xuất theo hướng xanh, tuần hoàn.

Đại diện phía Hoa Kỳ, ông Mark Petry, Tham tán Công sứ Nông nghiệp tại Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội, đánh giá việc thử nghiệm công nghệ cơ giới hóa gieo sạ kết hợp vùi phân và các giải pháp phân bón cải tiến trong điều kiện sản xuất thực tế giúp làm rõ tiềm năng giảm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón và cải thiện thu nhập cho nông dân. Ông đồng thời khuyến khích tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp Hoa Kỳ và các đối tác Việt Nam để mở rộng ứng dụng những giải pháp đã được kiểm chứng.

Hội nghị tổng kết là cơ sở để IRRI, VAG Group, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và nông dân tiếp tục đánh giá, hoàn thiện mô hình. Với sản xuất lúa tại đồng bằng sông Hồng, việc nhân rộng không chỉ phụ thuộc vào kết quả kỹ thuật mà còn cần chứng minh hiệu quả kinh tế, khả năng áp dụng trong điều kiện đồng ruộng và sự tham gia lâu dài của các bên trong chuỗi giá trị. Mô hình tại Nghĩa Sơn vì vậy cần được tiếp tục theo dõi qua các vụ sản xuất, làm rõ tính ổn định của mức tiết kiệm chi phí và hiệu quả của việc tận dụng phụ phẩm. Đây là cơ sở quan trọng để lựa chọn giải pháp phù hợp, tránh nhân rộng theo phong trào và hướng tới nền sản xuất lúa hiệu quả, bền vững hơn.

Sau hơn ba tháng triển khai, mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, xanh và bền vững tại xã Nghĩa Sơn, tỉnh Ninh Bình, ghi nhận kết quả tích cực về giảm chi phí sản xuất và nâng cao lợi nhuận. Mô hình hướng tới hoàn thiện quy trình canh tác và đánh giá khả năng nhân rộng.

Nguyễn Hạnh

Có thể bạn quan tâm