Nhận lời mời của Toàn quyền Canada Louise Arbour, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ thăm cấp Nhà nước tới Canada từ ngày 24/9 - 25/9/2026. Đây là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng Bí thư Việt Nam tới Canada kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973, mở ra cơ hội thúc đẩy quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam - Canada phát triển thực chất hơn, phù hợp với vai trò ngày càng quan trọng của Việt Nam trong chiến lược Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Canada.
Nhân dịp này, phóng viên Báo Công Thương đã trao đổi với TS. Trần Thu Quỳnh, Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Canada về những lĩnh vực có thể tạo bước tiến thực chất và triển vọng đưa quan hệ Việt Nam - Canada phát triển lên tầm cao mới.
TS. Trần Thu Quỳnh, Tham tán thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Canada.
- Sau 53 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Canada (1973 - 2026) và gần 10 năm thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện, bà đánh giá như thế nào về những bước phát triển nổi bật trong hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước thời gian qua?
TS. Trần Thu Quỳnh: Nếu nhìn lại 53 năm quan hệ Việt Nam - Canada, đặc biệt là gần 10 năm kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ Đối tác toàn diện năm 2017, điểm nổi bật không chỉ nằm ở các con số, mà còn ở sự chuyển biến về chất của quan hệ kinh tế, từ trao đổi thương mại đơn thuần sang quan hệ bổ trợ kinh tế ngày càng rõ nét.
Về thương mại, bước tiến đạt được là rất rõ ràng. Năm 2025, kim ngạch thương mại song phương đạt 8,6 tỷ USD theo số liệu của Hải quan Việt Nam, tăng 18,8%. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam lần đầu đạt 7,5 tỷ USD, còn nhập khẩu từ Canada lần đầu vượt 1 tỷ USD.
Theo số liệu của Cơ quan Thống kê Canada, xuất khẩu của Việt Nam sang Canada đạt 13,8 tỷ USD, tăng 28,4%, mức tăng trưởng cao nhất trong nhóm 10 đối tác nhập khẩu hàng đầu của Canada. Kể từ khi CPTPP có hiệu lực năm 2019, xuất khẩu của Việt Nam sang Canada đã tăng khoảng 2,6 lần, đưa Việt Nam trở thành đối tác thương mại hàng hóa lớn nhất của Canada trong ASEAN và là nguồn nhập khẩu lớn thứ 6 của Canada trên thế giới.
Đáng chú ý, tăng trưởng thương mại diễn ra ở nhiều nhóm hàng, từ các mặt hàng sử dụng nhiều lao động của khu vực doanh nghiệp trong nước như dệt may, da giày, nội thất, đồ chơi, thực phẩm chế biến, đến các nhóm hàng công nghiệp có giá trị cao như máy móc, thiết bị cơ khí và điện tử, đồng thời diễn ra ở cả hai chiều xuất khẩu và nhập khẩu.
Về thể chế, hai nước đã từng bước xây dựng một kiến trúc hợp tác tương đối hoàn chỉnh so với các đối tác cùng khu vực, với quan hệ Đối tác toàn diện được thiết lập năm 2017, nền tảng CPTPP có hiệu lực từ tháng 1/2019 và cơ chế Ủy ban hỗn hợp kinh tế (JEC) được thiết lập năm 2022. Việt Nam là nước đầu tiên trong ASEAN thiết lập cơ chế JEC với Canada.
Tại Kỳ họp JEC lần thứ ba diễn ra tại Ottawa tháng 6/2026, nội dung hợp tác tiếp tục được mở rộng sang những lĩnh vực mới như năng lượng, công nghiệp lưỡng dụng và kết nối hạ tầng. Đây là những trụ cột quan trọng để hai nước hướng tới nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược.
Kỳ họp lần III Ủy ban Hỗn hợp về Kinh tế Việt Nam - Canada diễn ra ngày 5/6/2026 tại Ottawa, Canada.
Trong hơn 30 năm qua, Canada đã dành cho Việt Nam gần 200 dự án hợp tác phát triển với tổng vốn khoảng 1,35 tỷ USD. Nhiều dự án trong số này đã trực tiếp góp phần nâng cao năng lực xuất khẩu và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Canada hiện là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ 14 tại Việt Nam, với 299 dự án và hơn 4,9 tỷ USD vốn đăng ký. Đây chính là những dư địa lớn để hai nước tiếp tục thúc đẩy hợp tác, đồng thời là trọng tâm công tác của thương vụ trong giai đoạn tới.
- Canada hiện là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam tại khu vực châu Mỹ, trong khi Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Canada trong ASEAN. Theo bà, đâu là những lĩnh vực hợp tác kinh tế, thương mại có nhiều tiềm năng, góp phần đưa quan hệ song phương phát triển thực chất và hiệu quả hơn trong thời gian tới?
TS. Trần Thu Quỳnh: Câu hỏi then chốt không chỉ là “Việt Nam có thể bán thêm gì cho Canada”, mà quan trọng hơn là “Canada đang thực sự cần gì”. Từ thực tế địa bàn, thương vụ nhận diện những nhu cầu chiến lược của Canada cũng chính là những không gian hợp tác mới cho doanh nghiệp hai nước.
Trước hết là nhu cầu đa dạng hóa nguồn cung khi người tiêu dùng và các hệ thống bán lẻ Canada đang chủ động tìm kiếm nguồn hàng thay thế, qua đó mở ra cơ hội để nông - thủy sản chế biến, đồ gỗ nội thất, dệt may, da giày và hàng tiêu dùng của Việt Nam từng bước mở rộng thị phần.
Cùng với đó, chính sách tái công nghiệp hóa và nhu cầu đầu tư lớn cho hạ tầng, xây dựng, quốc phòng và công nghệ cao của Canada đang tạo thêm cơ hội kết nối sản xuất công nghiệp, trong đó doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia cung ứng vật tư cơ khí chính xác, cấu kiện khuôn đúc, linh kiện, dây cáp điện, hóa chất và vật liệu composite.
Sản phẩm thép Hòa Phát được sản xuất trên dây chuyền tiên tiến, hiện đại, không chỉ phục vụ thị trường trong nước mà còn được xuất khẩu sang Canada, EU, Nhật Bản.
Ở lĩnh vực công nghệ, Canada có thế mạnh về nghiên cứu và phát triển, các quỹ đầu tư và tổ chức nghiên cứu, trong khi Việt Nam có năng lực sản xuất và lợi thế tiếp cận thị trường ASEAN, tạo điều kiện để hai bên mở rộng hợp tác về pin lưu trữ, pin xe điện, thiết bị điện mặt trời, quản lý năng lượng, xử lý chất thải tuần hoàn và bán dẫn.
Năng lượng và hạ tầng chiến lược cũng là lĩnh vực có nhiều tiềm năng, nhất là khi Canada đang đẩy mạnh xuất khẩu dầu khí, LNG sang châu Á. Việt Nam có thể nghiên cứu các mô hình hợp tác về lưu trữ, trung chuyển LNG, lọc hóa dầu tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời mở rộng hợp tác trong chuỗi uranium - SMR, điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh, điện rác, nhiên liệu hàng không bền vững và chế biến sâu khoáng sản thiết yếu.
Kho cảng LNG Thị Vải (phường Tân Phước, TP. Hồ Chí Minh), một trong những hạ tầng LNG quan trọng của Việt Nam. Ảnh: Nam Nguyễn
Một hướng hợp tác quan trọng khác là tận dụng mạng lưới FTA để nâng cao giá trị gia tăng, chuyển từ “bán hàng cho nhau” sang “cùng sản xuất”. Cơ chế cộng gộp xuất xứ của CPTPP cho phép nguyên liệu, linh kiện có xuất xứ Canada sau khi được gia công tại Việt Nam vẫn được tính vào hàm lượng nội khối, qua đó mở ra các mô hình như khoáng sản Canada chế biến tại Việt Nam hoặc nông sản Canada được chế biến sâu tại Việt Nam để xuất khẩu hưởng ưu đãi tới các thành viên CPTPP.
Bên cạnh hàng hóa, thương mại dịch vụ cũng còn nhiều dư địa để phát triển. Việt Nam có lợi thế trong công nghệ thông tin, phát triển phần mềm, tổng thầu EPC, thi công xây lắp công nghiệp, tư vấn thiết kế, logistics và nhượng quyền thương mại, trong khi Canada có thế mạnh về dịch vụ tài chính, tài chính xanh, tư vấn, thẩm định và quản lý các dự án hạ tầng quy mô lớn.
- Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được đánh giá là một động lực quan trọng thúc đẩy thương mại Việt Nam - Canada và Việt Nam đang đảm nhiệm vai trò Chủ tịch CPTPP năm 2026. Theo bà, vai trò này có thể tạo thêm những cơ hội nào để Việt Nam thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại với Canada, cũng như mở rộng kết nối doanh nghiệp hai nước?
TS. Trần Thu Quỳnh: Việc Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch CPTPP năm 2026 diễn ra vào thời điểm thuận lợi, khi hai nước đang hướng tới nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược và Canada cũng tích cực tìm kiếm thêm không gian hợp tác trong CPTPP. Theo tôi, đây là cơ hội để thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Canada trên cả ba phương diện: thực thi hiệp định, liên kết chuỗi cung ứng và kết nối doanh nghiệp.
Trước hết, Việt Nam có thể tận dụng vai trò Chủ tịch để thúc đẩy việc thực thi CPTPP hiệu quả hơn. Đây là dư địa lớn để Việt Nam thúc đẩy hợp tác kỹ thuật về quy tắc xuất xứ, cộng gộp, tự chứng nhận và minh bạch dữ liệu, giúp doanh nghiệp hai nước tận dụng tốt hơn các ưu đãi của CPTPP.
Vai trò Chủ tịch cũng tạo điều kiện để Việt Nam thúc đẩy quan hệ với Canada từ thương mại sang liên kết chuỗi cung ứng. Hai bên có thể mở rộng hợp tác về đầu tư, sản xuất, khoáng sản và năng lượng, trong đó các dự án được thiết kế phù hợp với quy tắc xuất xứ CPTPP sẽ tạo thêm cơ hội tiếp cận thị trường các nước thành viên. Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Canada có thể tận dụng vị trí của Canada trong CUSMA để tiếp cận thị trường Bắc Mỹ.
Một cơ hội khác là tăng cường kết nối doanh nghiệp thông qua các diễn đàn CPTPP, hoạt động bên lề các kỳ họp và các đoàn doanh nghiệp hai chiều. Thương vụ Việt Nam tại Canada sẽ tập trung cung cấp thông tin cụ thể về thuế quan, quy tắc xuất xứ, nguồn nguyên liệu và yêu cầu thị trường, qua đó giúp doanh nghiệp chuyển các cơ hội từ CPTPP thành hoạt động kinh doanh thực tế.
- Với vai trò cầu nối, Thương vụ Việt Nam tại Canada sẽ triển khai những giải pháp trọng tâm nào nhằm thúc đẩy kết nối hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng, mở rộng thị trường?
TS. Trần Thu Quỳnh: Với vai trò là cơ quan đại diện của Bộ Công Thương tại địa bàn, Thương vụ Việt Nam tại Canada xác định nhiệm vụ không chỉ cung cấp thông tin thị trường mà còn kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển tiềm năng thành cơ hội kinh doanh và tận dụng hiệu quả các ưu đãi thương mại. Trên cơ sở đó, thương vụ tập trung hệ thống hóa thông tin thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận và tận dụng hiệu quả CPTPP, đồng thời tăng cường kết nối doanh nghiệp hai nước.
Thương vụ Việt Nam tại Canada (Bộ Công Thương) phối hợp cùng Hiệp hội Xây dựng và Vật liệu xây dựng TP. Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo Kiến tạo tương lai - Tiềm năng hợp tác hạ tầng Việt Nam - Canada với sự tham dự của cộng đồng doanh nghiệp hai nước Việt Nam - Canada 12/2025.
Thương vụ hỗ trợ doanh nghiệp khai thác CPTPP theo hướng cụ thể, từ xác định dòng thuế, mức thuế MFN, chênh lệch ưu đãi đến yêu cầu về nguyên liệu và quy tắc xuất xứ; nghiên cứu phối hợp với đối tác Canada phát triển công cụ tính hàm lượng giá trị khu vực. Nguồn lực xúc tiến được tập trung vào các ngành hàng thế mạnh như dệt may, giày dép, nội thất, sản phẩm da, đồ chơi, dụng cụ thể thao và thực phẩm chế biến.
Đại diện đoàn dệt may Việt Nam và Thương vụ Việt Nam tại Canada chụp ảnh lưu niệm cùng Ban Tổ chức tại Triển lãm dệt may Toronto 2025.
Tại thị trường Canada, thương vụ tăng cường quảng bá CPTPP, kết nối nhà nhập khẩu, hệ thống bán lẻ và doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia hội chợ chuyên ngành, tổ chức “Ngày hàng Việt Nam” và xây dựng danh sách nhà nhập khẩu uy tín. Song song với xúc tiến thương mại, thương vụ chủ động theo dõi các quy định về kỹ thuật, an toàn thực phẩm, môi trường, lao động và phòng vệ thương mại để cảnh báo sớm cho doanh nghiệp. Hiện có 21 vụ việc liên quan đến hàng hóa Việt Nam, trong đó 8 vụ đang có hiệu lực.
Thương vụ cũng phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác, trong đó có Ủy ban hỗn hợp kinh tế và các nhóm công tác, tập trung vào năng lượng, khoáng sản thiết yếu và nông nghiệp - thực phẩm. Trong năm Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch CPTPP, thương vụ tiếp tục chuẩn bị nội dung kinh tế - thương mại phục vụ các hoạt động cấp cao và kết nối doanh nghiệp. Đồng thời, đổi mới xúc tiến theo hướng kết nối chuỗi cung ứng, bán lẻ, công nghiệp, công nghệ, năng lượng và hạ tầng chiến lược.
Định hướng xuyên suốt là thúc đẩy doanh nghiệp hai nước chuyển từ “bán hàng cho nhau” sang “cùng sản xuất để bán ra toàn khối CPTPP”, qua đó nâng cao giá trị và hiệu quả thực chất của quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam - Canada.
Xin cảm ơn những chia sẻ của bà!
Với nền tảng hơn nửa thế kỷ quan hệ ngoại giao, mối quan hệ Đối tác Toàn diện và những lợi ích ngày càng đan xen, hai nước đang đứng trước cơ hội định hình một chương hợp tác mới. Từ những nền tảng đã được vun đắp, chuyến thăm lịch sử của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có thể trở thành một dấu mốc để cụ thể hóa nền tảng đó bằng những chương trình hợp tác có chiều sâu, hướng tới lợi ích thiết thực của hai quốc gia và đóng góp vào một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương ổn định, kết nối và phát triển.