Luật sư Nguyễn Thanh Hà: Tạo niềm tin cho nhà đầu tư FDI bằng thể chế minh bạch

Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định hoàn thiện cơ chế bảo vệ nhà đầu tư là giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, củng cố niềm tin, thu hút dòng vốn FDI.

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng gay gắt, Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, đồng thời nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tranh chấp. Đây được xem là một trong những điều kiện tiên quyết để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI thế hệ mới.

Xoay quanh nội dung này, phóng viên Báo Công Thương đã trao đổi với Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch Công ty Luật SBLaw, chuyên gia tư vấn đầu tư nước ngoài.

Bảo vệ nhà đầu tư: Mắt xích quyết định sức hút FDI của Việt Nam

- Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, đồng thời nâng cao hiệu quả tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tranh chấp. Theo ông, đâu là những "điểm nghẽn" lớn nhất trong cơ chế bảo vệ nhà đầu tư FDI hiện nay cần được ưu tiên tháo gỡ?

Luật sư Nguyễn Thanh Hà: Nghị quyết số 10-NQ/TW đã xác định rất đúng trọng tâm khi coi việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư là một trong những trụ cột để nâng cao chất lượng môi trường đầu tư. Tuy nhiên, từ thực tiễn tư vấn cho nhiều doanh nghiệp nước ngoài, tôi cho rằng vẫn còn ba "nút thắt" lớn cần sớm được tháo gỡ.

Thứ nhất là tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách. Các nhà đầu tư trong những lĩnh vực có chu kỳ vốn dài như bán dẫn, trung tâm dữ liệu, năng lượng tái tạo hay sản xuất công nghệ cao đều cần một môi trường chính sách ổn định trong nhiều năm. Nếu quy định thay đổi đột ngột hoặc thiếu lộ trình chuyển tiếp hợp lý, rủi ro đầu tư sẽ gia tăng đáng kể.

Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch Công ty Luật SBLaw

Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch Công ty Luật SBLaw

Thứ hai là sự chồng chéo của hệ thống pháp luật. Mặc dù Việt Nam đã xây dựng tương đối đầy đủ các đạo luật điều chỉnh hoạt động đầu tư, nhưng vẫn tồn tại những khoảng giao thoa giữa Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng và Luật Quy hoạch.

Trong thực tế, không ít dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nhưng lại bị ách tắc ở khâu giao đất do các cơ quan quản lý có cách hiểu khác nhau về quy định pháp luật. Tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan khiến nhiều dự án chậm tiến độ từ hai đến ba năm, làm tăng chi phí và giảm niềm tin của nhà đầu tư.

Thứ ba là cơ chế giải quyết tranh chấp chưa thực sự độc lập và hiệu quả. Khi phát sinh tranh chấp giữa doanh nghiệp FDI với cơ quan quản lý địa phương, quá trình đối thoại hiện nay vẫn mang nặng tính hành chính. Trong nhiều trường hợp, nhà đầu tư buộc phải khởi kiện theo cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và Nhà nước (ISDS) theo các hiệp định bảo hộ đầu tư.

Những vụ kiện này không chỉ gây thiệt hại kinh tế mà còn ảnh hưởng đến uy tín quốc gia. Vì vậy, việc xây dựng một cơ chế giải quyết tranh chấp minh bạch, khách quan và tiệm cận chuẩn mực quốc tế là yêu cầu cấp thiết.

Giải quyết tranh chấp theo chuẩn quốc tế

- Nghị quyết số 10-NQ/TW cũng yêu cầu nâng cao khả năng tiếp cận thị trường và hoàn thiện các công cụ phòng ngừa rủi ro cho nhà đầu tư nước ngoài. Theo ông, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý theo hướng nào để vừa bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhà đầu tư, vừa bảo đảm an ninh kinh tế và lợi ích quốc gia?

Luật sư Nguyễn Thanh Hà: Theo tôi, định hướng quan trọng nhất là minh bạch hóa điều kiện đầu tư ngay từ khâu tiếp cận thị trường, đồng thời áp dụng cơ chế quản lý rủi ro dựa trên dữ liệu thay vì các biện pháp hành chính.

Cụ thể, cần công khai rõ lộ trình mở cửa đối với từng ngành nghề, đặc biệt là các lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn, trung tâm dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và năng lượng sạch.

Khi các điều kiện về tỷ lệ sở hữu, phạm vi hoạt động, tiêu chí cấp phép được quy định minh bạch, nhà đầu tư sẽ chủ động đánh giá rủi ro và xây dựng kế hoạch kinh doanh dài hạn, thay vì phải phụ thuộc vào cơ chế xin - cho.

Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống rà soát rủi ro dựa trên dữ liệu, tập trung kiểm tra chủ sở hữu hưởng lợi cuối cùng, nguồn gốc dòng vốn và mức độ ảnh hưởng của dự án đến hạ tầng trọng yếu, dữ liệu quốc gia và an ninh năng lượng.

Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định hoàn thiện cơ chế bảo vệ nhà đầu tư là giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, củng cố niềm tin, thu hút dòng vốn FDI. Ảnh minh hoạ

Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định hoàn thiện cơ chế bảo vệ nhà đầu tư là giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao sức cạnh tranh quốc gia, củng cố niềm tin, thu hút dòng vốn FDI. Ảnh minh hoạ

Đây là cách tiếp cận đang được nhiều quốc gia áp dụng nhằm vừa tạo thuận lợi cho đầu tư, vừa bảo đảm lợi ích quốc gia.

Chẳng hạn, đối với lĩnh vực trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây, pháp luật cần cho phép nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư, xây dựng và khai thác hạ tầng theo cơ chế minh bạch. Đồng thời, cần quy định rõ các yêu cầu về lưu trữ dữ liệu trong nước, tiêu chuẩn an toàn hệ thống và các khu vực hạn chế đầu tư vì lý do quốc phòng, an ninh.

- Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một trong những điểm đến hàng đầu ASEAN về môi trường đầu tư vào năm 2030. Theo ông, cải cách cơ chế giải quyết tranh chấp cần tập trung vào những nội dung nào để tiệm cận thông lệ quốc tế?

Luật sư Nguyễn Thanh Hà: Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, cơ chế giải quyết tranh chấp cần chuyển mạnh từ tư duy xử lý hành chính sang phương thức giải quyết theo chuẩn mực pháp lý quốc tế. Theo tôi, có ba trọng tâm cần ưu tiên.

Một là, khuyến khích các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án, bao gồm hòa giải thương mại và trọng tài thương mại. Đây là những cơ chế được cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đánh giá cao vì bảo đảm tính độc lập, bảo mật và thời gian xử lý nhanh.

Hai là, thiết lập cơ chế tiếp nhận và xử lý vướng mắc tập trung, có sự điều phối giữa các bộ, ngành để giải quyết ngay từ khi phát sinh, tránh để các bất cập hành chính kéo dài thành tranh chấp pháp lý.

Ba là, nâng cao tính minh bạch của môi trường đầu tư, thông qua việc hoàn thiện cơ chế công bố thông tin, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền tài sản và áp dụng các chuẩn mực quản trị, kế toán theo thông lệ quốc tế.

Có thể hình dung một trường hợp tranh chấp giữa nhà đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp phát triển hạ tầng khu công nghiệp về giá thuê đất sau khi địa phương điều chỉnh quy hoạch.

Nếu áp dụng cơ chế truyền thống, doanh nghiệp phải trải qua nhiều cấp giải quyết hoặc khởi kiện tại tòa án với thời gian kéo dài nhiều năm.

Trong khi đó, nếu hợp đồng đã quy định cơ chế hòa giải hoặc trọng tài thương mại, đồng thời toàn bộ dữ liệu quy hoạch và chi phí hạ tầng được công khai trên nền tảng số, tranh chấp có thể được giải quyết chỉ trong vài tháng.

Đó chính là điều mà các nhà đầu tư quốc tế luôn quan tâm: một môi trường đầu tư có tính dự báo cao, minh bạch và có cơ chế bảo vệ quyền lợi hiệu quả.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Theo Luật sư Nguyễn Thanh Hà: Khi ranh giới giữa quyền đầu tư và yêu cầu bảo đảm an ninh quốc gia được quy định rõ ràng, các tập đoàn công nghệ sẽ yên tâm đầu tư lâu dài, trong khi Nhà nước vẫn bảo đảm kiểm soát hiệu quả các lĩnh vực trọng yếu.

Đỗ Nga thực hiện

Có thể bạn quan tâm