Longform
07/07/2026 11:57
Địa phương

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 3: Những 'hạt nhân' tiên phong

Thứ Ba, 07/07/2026 11:57:00 +07:00

(Công Thương) - Từ những làng nghề trăm năm tuổi, Hà Nội đang chuyển hóa di sản thành động lực tăng trưởng với mô hình "làng trong phố". Trên hành trình đó, những nghệ nhân và doanh nghiệp tiên phong chính là các "hạt nhân" kết nối truyền thống với đổi mới sáng tạo, đưa giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội vươn ra thế giới.

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 3: Những 'hạt nhân' tiên phong - 1

 

Hàng nghìn năm Thăng Long, nghề truyền thống đã trở thành một phần máu thịt, được gìn giữ và truyền nối qua nhiều thế hệ như dòng chảy âm thầm trong mỗi làng nghề. Định hướng Quy hoạch Tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm đặt ra là phát triển đô thị nhưng không đánh đổi bản sắc văn hóa, coi di sản là nền tảng tạo nên sức sống và lợi thế cạnh tranh bền vững của Thủ đô. Đây cũng là định hướng nhất quán của Hà Nội khi xác lập mô hình phát triển "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc", lấy con người làm trung tâm và văn hóa là trụ cột của phát triển.

Từ định hướng ấy, bằng sự tiên phong, mở đường, nhiều nghệ nhân đã chuyển từ tư duy làm nghề sang phát triển thương hiệu, từ xuất khẩu sản phẩm sang xuất khẩu giá trị văn hóa bằng câu chuyện, bản sắc và tinh hoa của Thăng Long - Hà Nội.

Trải qua hàng nghìn lăm lịch sử, Bát Tràng không chỉ là cái nôi của nghề gốm Việt Nam mà còn là biểu tượng kết tinh giữa tinh hoa thủ công, bản sắc văn hóa, tinh thần sáng tạo của người Hà Nội và là một trong những thương hiệu làng nghề tiêu biểu của Việt Nam vang danh thế giới.

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 3: Những 'hạt nhân' tiên phong - 2

 

Kể lại hành trình tiếp lửa cho gốm Bát Tràng, kế thừa tinh hoa của 17 đời làm gốm, nghệ nhân Hà Thị Vinh - Chủ tịch Hiệp hội Thủ công mỹ nghệ và làng nghề Hà Nội, Giám đốc Công ty TNHH Gốm sứ Quang Vinh (Bát Tràng), cho biết: Vào những năm 1989, làng nghề đối diện nhiều khó khăn về đầu ra và trước câu hỏi: “Tại sao cha ông ta ngày xưa có thể xuất khẩu gốm sứ sang Nhật Bản và các nước?” đã giúp nghệ nhân Hà Thị Vinh tìm được hướng đi mới cho làng nghề.

Và câu trả lời của bà: “Chỉ có một con đường “sống” duy nhất cho gốm Bát Tràng là xuất khẩu”. Từ tư duy ấy, bà cùng nhiều nghệ nhân và doanh nghiệp đã mạnh dạn đổi mới mẫu mã, đầu tư công nghệ, chuẩn hóa quy trình sản xuất, đầu tư nhà máy sản xuất hiện đại tại Quảng Ninh, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm gốm Bát Tràng.

Từ bước ngoặt tại một hội chợ năm 1989 với hợp đồng xuất khẩu đầu tiên sang Italia, đến nay Quang Vinh từng bước mở rộng đến hơn 30 thị trường, chinh phục nhiều quốc gia khó tính như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Đan Mạch và nhiều thị trường khác.

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 3: Những 'hạt nhân' tiên phong - 3

 

"Không chỉ bán sản phẩm gốm, Bát Tràng còn giới thiệu với bạn bè quốc tế câu chuyện về văn hóa, lịch sử và bàn tay tài hoa của người thợ gốm Việt Nam", nghệ nhân Hà Thị Vinh chia sẻ.

Không dừng lại ở xuất khẩu sản phẩm, Quang Vinh tiếp tục mở rộng chuỗi giá trị bằng việc xây dựng không gian trải nghiệm và Trung tâm Tinh hoa làng nghề Việt ngay tại Bát Tràng nhằm thúc đẩy giao thương, du lịch trải nghiệm.

Không chỉ gốm, tại làng nghề mây tre đan Phú Vinh (Chương Mỹ) cũng đã cho thấy sức sống của một cộng đồng nghề biết chủ động thích ứng với thị trường quốc tế.

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, nghệ nhân Nguyễn Văn Tĩnh, Giám đốc Công ty TNHH mây tre Đan Việt Quang, người tiên phong phục dựng nghề mây tre đan cho làng, với 3 đời là nghệ nhân trải lòng: Điều làm nên sức sống của Phú Vinh suốt hơn 400 năm không chỉ là kỹ thuật đan lát mà còn là tinh thần sáng tạo không ngừng của cả cộng đồng làng nghề.

"Người dân buộc phải sáng tạo để mưu sinh. Sáng tạo để làm ra sản phẩm đẹp hơn, tinh xảo hơn và sáng tạo để sử dụng nguyên liệu tiết kiệm hơn", nghệ nhân Tĩnh chia sẻ.

Cũng theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tĩnh cho hay: "Xuất khẩu hôm nay không còn là bán một chiếc giỏ hay một chiếc khay mây tre, mà là xuất khẩu giá trị văn hóa. Mỗi sản phẩm phải kể được câu chuyện về con người, lịch sử và bản sắc riêng có của Phú Vinh thì mới tạo được dấu ấn với khách hàng quốc tế".

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 3: Những 'hạt nhân' tiên phong - 4

 

Hiện sản phẩm Phú Vinh đã có mặt tại gần 50 quốc gia và vùng lãnh thổ, trở thành một trong những làng nghề thủ công mỹ nghệ có hoạt động xuất khẩu tiêu biểu của Hà Nội.

Bên cạnh đó, từ chủ trương của thành phố, địa phương, nhận thấy tiềm năng từ du lịch bản địa, Phú Vinh đã xây dựng các mô hình điểm đến văn hóa, thông qua các chương trình trải nghiệm tại làng nghề.

Không chỉ tại Bát Tràng hay Phú Vinh mà nón lá làng Chuông (xã Thanh Oai, Hà Nội) cũng đang viết tiếp câu chuyện thành công khi đưa nón lá làng Chuông thành biểu tượng văn hóa Việt Nam bước ra thế giới thông qua sáng tạo sản phẩm và giao lưu văn hóa.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, nghệ nhân Lê Văn Tuy cho biết, năm 1999, thành công với đơn đặt hàng là chiếc nón có đường kính 1m đã giúp ông mở ra hướng đi mới: Từ chỗ chỉ miệt mài giữ nghề cha ông để lại, ông bắt đầu sáng tạo những mẫu mã mang hơi thở đương đại mà vẫn giữ nguyên hồn cốt chiếc nón làng Chuông.

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 3: Những 'hạt nhân' tiên phong - 5

 

Đến nay, xưởng sản xuất của gia đình ông đã có nhiều đơn hàng phục vụ xuất khẩu, làm quà tặng, quà lưu niệm cho du khách trong và ngoài nước.

Theo nghệ nhân Lê Văn Tuy, không dừng lại ở việc đưa sản phẩm ra thị trường quốc tế, làng Chuông đang tiếp tục mở rộng giá trị bằng mô hình Trung tâm Thiết kế sáng tạo, giới thiệu, quảng bá và bán sản phẩm OCOP.

Chỉ riêng cuối năm 2024, cơ sở của ông đã đón khoảng 10.000 học sinh đến tham quan, tìm hiểu nghề làm nón; từ đầu năm 2026 đến nay tiếp tục đón khoảng 5.000 lượt khách trong và ngoài nước. “Đây cũng là cách gìn giữ văn hoá tinh hoa của nghề cũng như tạo giá trị gia tăng từ sản phẩm làng nghề”, nghệ nhân Lê Văn Tuy nói.

Những tấm gương điển hình trong đổi mới tư duy tại các làng nghề Hà Nội chỉ là số ít trong khi dư địa của ngành hàng là rất lớn. Bài toán lớn hơn là làm thế nào để hình thành hệ sinh thái liên ngành những doanh nghiệp "đầu tàu", đủ sức dẫn dắt chuỗi giá trị, mở rộng thị trường và đưa sản phẩm thủ công mỹ nghệ Hà Nội từ lợi thế văn hóa trở thành lợi thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 3: Những 'hạt nhân' tiên phong - 6

 

Hà Nội không chỉ là cái nôi của hơn 1.350 làng nghề và làng có nghề, mà còn là nơi lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống thông qua sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Trong bối cảnh xuất khẩu thủ công mỹ nghệ Việt Nam đứng trong top 10 ngành hàng giá trị cao, tăng trưởng ổn định và đã có mặt tại 163 quốc gia, đặc biệt tại các thị trường khó tính, cho thấy tiềm năng xuất khẩu ngành hàng này của Hà Nội là rất lớn. 

Theo Hiệp hội làng nghề Việt Nam, thị trường xuất khẩu thủ công mỹ nghệ đang tăng trưởng mạnh: từ 2,23 tỷ USD năm 2019 lên gần 4 tỷ USD năm 2024 và khoảng hơn 4 tỷ USD năm 2025. Theo định hướng phát triển ngành, nếu khắc phục được những điểm nghẽn về thiết kế, thương hiệu và năng lực sản xuất, kim ngạch xuất khẩu có thể hướng tới mục tiêu 6 tỷ USD vào năm 2030. 

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 3: Những 'hạt nhân' tiên phong - 7

 

Tuy nhiên, phía sau những con số tăng trưởng ấy vẫn là nhiều thách thức. Theo Hiệp hội Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam (VIETCRAFT), Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia xuất khẩu thủ công mỹ nghệ quan trọng của thế giới nhưng thị phần vẫn còn khiêm tốn. Phần lớn doanh nghiệp vẫn sản xuất theo hình thức gia công (OEM), giá trị gia tăng thấp; năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu và phát triển sản phẩm còn hạn chế. 

Theo đó, ông Trịnh Quốc Đạt, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cho rằng, muốn phát triển bền vững cần đồng bộ từ quy hoạch vùng nguyên liệu đạt chứng chỉ, chính sách gìn giữ và đãi ngộ nghệ nhân đến đào tạo thế hệ kế cận. Song song với đó là đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng thương mại điện tử, tăng cường xúc tiến thương mại, hỗ trợ tài chính và thúc đẩy sản xuất xanh nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 3: Những 'hạt nhân' tiên phong - 8

 

Nhằm khai thác hiệu quả dư địa này, Hà Nội đang từng bước hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường. Riêng năm 2025, thành phố đã hỗ trợ 11 doanh nghiệp phát triển 88 mẫu thiết kế thủ công mỹ nghệ xuất khẩu; nhiều mẫu được đối tác quốc tế đánh giá cao về tính sáng tạo và khả năng thương mại hóa.

Song song với phát triển thương hiệu, Hà Nội cũng đẩy mạnh quy hoạch hạ tầng phục vụ sản xuất, Sở Công Thương đã phối hợp rà soát việc thực hiện Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp đến năm 2020, định hướng đến năm 2030, đồng thời phối hợp với Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội xây dựng Phương án phát triển cụm công nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 3: Những 'hạt nhân' tiên phong - 9

 

Đánh giá về cơ hội xúc tiến xuất khẩu đối với sản phẩm thủ công mỹ nghệ nói chung, trên địa bàn Hà Nội nói riêng, ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) cho rằng, lợi thế cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam không nằm ở giá rẻ mà ở giá trị văn hóa và bản sắc dân tộc kết tinh trong mỗi sản phẩm.

Trong bối cảnh người tiêu dùng toàn cầu ngày càng coi trọng tính bền vững và dấu ấn thủ công, việc chuyển từ tư duy "xuất khẩu sản phẩm" sang "xuất khẩu giá trị văn hóa" sẽ mở ra dư địa tăng trưởng lớn hơn cho các làng nghề.

"Muốn làm được điều đó, doanh nghiệp cần đầu tư mạnh vào thiết kế, xây dựng thương hiệu, đổi mới sáng tạo và kể câu chuyện văn hóa của sản phẩm, qua đó nâng cao giá trị gia tăng và vị thế hàng Việt trên thị trường quốc tế", ông Vũ Bá Phú nhấn mạnh. 

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 3: Những 'hạt nhân' tiên phong - 10

 

Theo các chuyên gia, dư địa xuất khẩu của ngành thủ công mỹ nghệ còn rất lớn, nhưng không có thị trường nào tự mở ra nếu thiếu những "đầu tàu" đủ năng lực dẫn dắt. Xúc tiến thương mại có thể mở cánh cửa thị trường, song sức cạnh tranh bền vững phải được tạo dựng từ chính nội lực của doanh nghiệp và làng nghề. Nội lực ấy không chỉ là chất lượng sản phẩm, vùng nguyên liệu, công nghệ hay năng lực quản trị, mà cốt lõi là con người - những nghệ nhân gìn giữ tinh hoa và lớp kế cận tiếp tục sáng tạo để đưa giá trị văn hóa Việt Nam vươn ra thế giới.

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Đức Tân (làng gốm Bát Tràng) cho biết, điều khiến ông yên lòng nhất là ngày càng có nhiều người trẻ trở về với nghề, trong đó có chính người con trai của ông. Với lợi thế am hiểu công nghệ, thế hệ trẻ đã cùng ông ứng dụng máy móc vào những công đoạn phù hợp để nâng cao năng suất và chất lượng, nhưng vẫn giữ được tinh tuý từ kỹ thuật thủ công làm nên hồn cốt của gốm Bát Tràng.

Theo ông Tân: "Sự kết hợp giữa kinh nghiệm của thế hệ đi trước với tư duy đổi mới của lớp trẻ chính là hướng đi giúp nghề truyền thống nâng cao sức cạnh tranh". 

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 3: Những 'hạt nhân' tiên phong - 11

 

Ở góc độ khác, ông Nguyễn Văn Tĩnh, Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mây tre đan Việt Quang, cho rằng bài toán lớn nhất hiện nay là thiếu nguồn nhân lực kế cận. Muốn giữ nghề phải tạo điều kiện để người trẻ sống được bằng nghề, có cơ hội sáng tạo và khởi nghiệp; đồng thời cần có cơ chế để nghệ nhân truyền nghề, đưa trải nghiệm làng nghề vào trường học nhằm nuôi dưỡng tình yêu nghề cho thế hệ trẻ. 

Để giải quyết bài toán nguồn nhân lực, theo nhà Dân tộc học, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Xuân Đính: "Muốn làng nghề phát triển theo hướng công nghiệp văn hóa, điều tiên quyết phải đổi mới tư duy quản trị của các chủ thể sản xuất và xây dựng môi trường đủ hấp dẫn để thu hút nhân lực chất lượng cao". 

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 3: Những 'hạt nhân' tiên phong - 12

 

Nhận thức rõ vai trò của đội ngũ nghệ nhân trong chiến lược phát triển ngành, Hà Nội đã triển khai nhiều chính sách nhằm tôn vinh và phát huy lực lượng này. Theo bà Nguyễn Kiều Oanh, Phó Giám đốc Sở Công Thương Hà Nội, đến nay thành phố đã tổ chức 5 đợt xét tặng danh hiệu "Nghệ nhân nhân dân", "Nghệ nhân ưu tú", với 16 Nghệ nhân nhân dân và 67 Nghệ nhân ưu tú được Chủ tịch nước phong tặng; đồng thời tổ chức 9 đợt phong tặng danh hiệu "Nghệ nhân Hà Nội" cho 300 nghệ nhân. Đây không chỉ là sự ghi nhận những đóng góp của nghệ nhân mà còn tạo động lực để họ tiếp tục truyền nghề, sáng tạo và phát triển sản phẩm.

Có thể thấy, mỗi sản phẩm thủ công không chỉ là một hàng hóa mà còn chứa đựng tri thức dân gian, kỹ năng lao động và bản sắc văn hóa được bồi đắp qua nhiều thế hệ. Tinh thần ấy cũng được thể hiện rõ tại Nghị quyết số 80-NQ/TW khi xác định con người là nền tảng,  nguồn lực nội sinh của phát triển văn hóa.

Với Hà Nội, hiện thực hóa mô hình "làng trong phố" không chỉ là tổ chức lại không gian phát triển mà còn là kiến tạo môi trường để nghệ nhân được tôn vinh, người trẻ được truyền cảm hứng và có thể sống được bằng nghề. Chỉ khi sức sáng tạo nội sinh được đánh thức, di sản mới thực sự trở thành nguồn lực tăng trưởng và động lực phát triển bền vững của Thủ đô.

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 3: Những 'hạt nhân' tiên phong - 13

 

Có thể bạn quan tâm

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 2 - Thách thức mới

Làng nghề - làng trong phố dưới góc nhìn Nghị quyết 80 và quy hoạch Thủ đô 100 năm: Kỳ 2 - Thách thức mới

Trong tiến trình xây dựng Hà Nội trở thành siêu đô thị hiện đại, sáng tạo và có sức cạnh tranh toàn cầu, tương lai của các làng nghề không còn là câu chuyện bảo tồn đơn thuần, mà là bài toán tổ chức lại không gian sản xuất, chuỗi giá trị và sinh kế cộng đồng. Những “điểm nghẽn” này nếu không sớm được tháo gỡ sẽ khiến tiềm năng di sản khó chuyển hóa thành động lực tăng trưởng mới của Thủ đô.