Lâm Đồng: Dư địa lớn nhưng thiếu ‘cú hích’ đầu tư chế biến sâu

Lâm Đồng đặt mục tiêu tăng trưởng công nghiệp 14,5% giai đoạn 2026 – 2030, nhưng chế biến sâu còn hạn chế, thiếu dự án lớn, công nghệ cao tạo bứt phá giá trị.

Sở hữu nguồn nguyên liệu nông, lâm, thủy sản dồi dào, đa dạng hàng đầu khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, Lâm Đồng được đánh giá có dư địa rất lớn để phát triển công nghiệp chế biến, đặc biệt là chế biến sâu nông sản, thực phẩm và dược liệu. Trong giai đoạn 2021 – 2025, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản được xác định là “điểm sáng”, là động lực tăng trưởng quan trọng của toàn ngành công nghiệp địa phương. Tuy nhiên, thực tế cho thấy tiềm năng này vẫn chưa được “đánh thức” tương xứng khi chuỗi chế biến còn manh mún, thiếu các dự án quy mô lớn, công nghệ cao đóng vai trò dẫn dắt.

Mạng lưới sơ chế rộng, nhưng chế biến sâu còn khiêm tốn

Trong lĩnh vực nông sản, Lâm Đồng đã hình thành được mạng lưới khoảng 508 cơ sở sơ chế, đóng gói, với sản lượng lên tới 1,53 triệu tấn/năm. Đây là nền tảng quan trọng cho phát triển công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu.

Dù vậy, tỷ lệ nông sản (rau, trái cây) qua chế biến năm 2025 mới đạt khoảng 24,4% tổng sản lượng. Phần lớn sản phẩm vẫn tiêu thụ dưới dạng sơ chế hoặc xuất khẩu thô, khiến giá trị gia tăng còn thấp. Điểm tích cực là chất lượng chế biến đã có sự chuyển dịch rõ nét, khi các sản phẩm chủ lực như cà phê, chè, sầu riêng, rau quả từng bước chuyển từ xuất khẩu thô sang chế biến sâu, chế biến tinh, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của các thị trường như EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc.

Lâm Đồng đặt mục tiêu tăng trưởng công nghiệp bình quân 14,5% giai đoạn 2026 – 2030, hướng tới năm 2030 trở thành trụ cột kinh tế với các trung tâm công nghiệp, năng lượng, chế biến, logistics quy mô vùng. Ảnh: Lê Sơn

Lâm Đồng đặt mục tiêu tăng trưởng công nghiệp bình quân 14,5% giai đoạn 2026 – 2030, hướng tới năm 2030 trở thành trụ cột kinh tế với các trung tâm công nghiệp, năng lượng, chế biến, logistics quy mô vùng. Ảnh: Lê Sơn

Tuy nhiên, sự chuyển dịch này vẫn mang tính cục bộ. Riêng cà phê, mặt hàng chủ lực của tỉnh, đạt khoảng 650.000 tấn cà phê nhân mỗi năm, song sản lượng chế biến tinh mới chỉ hơn 12.000 tấn. Các loại nông sản có sản lượng lớn nhưng thời gian bảo quản ngắn như thanh long, sầu riêng, bơ, rau vẫn thiếu vắng nhà máy chế biến quy mô công nghiệp, khiến tình trạng “được mùa mất giá” chưa được giải quyết căn cơ.

Trong khi đó, quản lý rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp được xác định là trụ cột không thể tách rời trong chiến lược phát triển công nghiệp xanh, bền vững của tỉnh. Từ năm 2021 đến nay, Lâm Đồng đã trồng mới 26.981 ha rừng tập trung, trồng trên 13,3 triệu cây phân tán, đồng thời khoanh nuôi xúc tiến tái sinh 10.614 ha rừng. Nhờ đó, độ che phủ rừng tăng từ 46,22% cuối năm 2020, lên 46,78% năm 2025.

Không chỉ dừng ở gia tăng diện tích, tỉnh đang tập trung nâng cao “chất lượng” kinh tế của rừng, phục vụ cho công nghiệp chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ. Việc thúc đẩy liên kết sản xuất, hỗ trợ doanh nghiệp và chủ rừng đạt các chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC, VFCS/PEFC được xem là yêu cầu bắt buộc để nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm lâm sản trên thị trường toàn cầu. Bên cạnh đó, phát triển kinh tế dưới tán rừng, đặc biệt là trồng cây dược liệu và lâm sản ngoài gỗ, đang được khuyến khích nhằm đa dạng hóa nguồn thu cho doanh nghiệp và cộng đồng nhận khoán bảo vệ rừng.

Vùng trồng thanh long tại tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: Lê Sơn

Vùng trồng thanh long tại tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: Lê Sơn

Dù có lợi thế về nguồn nguyên liệu, chế biến lâm sản vẫn là khâu yếu. Sản phẩm chủ yếu là mộc gia dụng, vật liệu dạng tấm, giá trị gia tăng thấp. Phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ, công suất hạn chế, công nghệ sản xuất chủ yếu ở mức thủ công hoặc bán tự động, sử dụng máy móc nhập từ Đài Loan (Trung Quốc) hoặc trong nước sản xuất. Nguồn nguyên liệu chế biến hiện nay chủ yếu là gỗ rừng trồng (khoảng 50%) và gỗ nhập khẩu, trong khi năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu còn hạn chế, làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm.

Trái ngược với nông, lâm sản, công nghiệp chế biến thủy sản, đặc biệt tại khu vực ven biển, tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu trong cơ cấu xuất khẩu. Hiện nay, khoảng 70% sản lượng thủy sản đã qua chế biến, trong đó các mặt hàng có giá trị gia tăng cao như surimi, sashimi, thủy sản tẩm bột, chế biến gia nhiệt chiếm 20 – 30% cơ cấu sản phẩm.

Việc chuyển hướng sang các dòng sản phẩm tinh chế giúp thủy sản địa phương gia tăng giá trị xuất khẩu và khẳng định uy tín tại các thị trường khó tính như EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc. Tuy nhiên, để đạt mục tiêu 80 – 100 nghìn tấn thủy sản chế biến công nghiệp vào năm 2030, tỉnh vẫn cần thêm nhiều dự án quy mô lớn, công nghệ hiện đại, thay vì sản xuất phân tán như hiện nay.

Đồ uống, sữa, nước khoáng tiềm năng còn bỏ ngỏ

Trong lĩnh vực sản xuất đồ uống, ngành rượu và rượu vang đang thu hẹp quy mô do nhu cầu thị trường sụt giảm, giá nguyên liệu tăng cao và tác động từ các quy định hạn chế tác hại của rượu bia. Hiện nhiều cơ sở chỉ vận hành khoảng 30% công suất thiết kế. Một số doanh nghiệp đã chủ động chuyển sang sản xuất nước giải khát có ga và không ga để duy trì tăng trưởng.

Nhà máy bia trên địa bàn vẫn duy trì công suất 100 – 125 triệu lít/năm, đóng góp hơn 1.000 tỷ đồng ngân sách mỗi năm, song sản lượng cũng đang có xu hướng giảm do sức mua thị trường yếu. Ngược lại, chế biến sữa ghi nhận tăng trưởng mạnh về quy mô công suất, với nhiều thương hiệu lớn đã khẳng định chỗ đứng trên thị trường, cùng sự đầu tư ngày càng bài bản về công nghệ.

Nhiều doanh nghiệp cũng đối mặt khó khăn như chi phí logistics và giá vật tư nông nghiệp tăng, thiếu kho lạnh bảo quản, cạnh tranh từ các nước trong khu vực, tình trạng lao động thời vụ và hạ tầng giao thông xuống cấp. Ảnh: Lê Sơn

Nhiều doanh nghiệp cũng đối mặt khó khăn như chi phí logistics và giá vật tư nông nghiệp tăng, thiếu kho lạnh bảo quản, cạnh tranh từ các nước trong khu vực, tình trạng lao động thời vụ và hạ tầng giao thông xuống cấp. Ảnh: Lê Sơn

Bên cạnh đó, Lâm Đồng nổi bật với hoạt động khai thác, chế biến nước khoáng có ga và không ga, tổng công suất trên 95 triệu lít/năm. Đặc biệt, nước ion kiềm đang trở thành dòng sản phẩm mới, mở ra dư địa tăng trưởng gắn với xu hướng tiêu dùng vì sức khỏe.

Có thể thấy, Lâm Đồng không thiếu nguồn nguyên liệu, định hướng hay tiềm năng thị trường. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở việc thiếu các dự án chế biến sâu quy mô lớn, công nghệ cao và nhà đầu tư dẫn dắt, cùng với hạ tầng khu, cụm công nghiệp và chính sách ưu đãi chưa đủ sức tạo đột phá.

Nếu không sớm tạo được “cú hích” mạnh mẽ về cơ chế, quỹ đất sạch, hạ tầng và môi trường đầu tư, ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản của Lâm Đồng sẽ tiếp tục ở trạng thái “đứng trên núi vàng” nguyên liệu, nhưng giá trị gia tăng thu về vẫn còn khiêm tốn.

Lâm Đồng phấn đấu tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp giai đoạn 2026 – 2030 tăng bình quân 14,5%. Đến năm 2030, công nghiệp trở thành trụ cột quan trọng của nền kinh tế tỉnh; hình thành các trung tâm công nghiệp, năng lượng, chế biến, logistics có quy mô vùng; nâng cao năng lực cạnh tranh, giá trị gia tăng và mức độ tham gia vào chuỗi giá trị trong nước và quốc tế.

Lê Sơn - Duy Tín

Có thể bạn quan tâm