Không thể chống ngập chỉ bằng ‘thoát nước nhanh’

Giảm ngập đô thị cần được nhìn nhận ở quy mô lưu vực, trong đó thoát nước phải đi cùng trữ nước, quy hoạch không gian, công nghệ dự báo và các giải pháp dựa vào tự nhiên.

Thông tin được đưa ra tại Hội thảo quốc tế “Quản lý ngập lụt đô thị và quản lý lưu vực sông” do Trường Đại học Thủy lợi, Hội Thủy lợi Việt Nam và Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tổ chức sáng 21/8, tại Hà Nội.

Ngập lụt đô thị cần được quản lý theo đặc điểm từng lưu vực

Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành cho rằng, ngập lụt đô thị hiện không còn là vấn đề riêng của hệ thống thoát nước trong phạm vi một đô thị. Mưa cực đoan, dòng chảy từ thượng lưu, mực nước sông, triều, khả năng trữ nước của lưu vực, sử dụng đất và tổ chức không gian đô thị có mối quan hệ chặt chẽ. Do đó, giải quyết ngập lụt đô thị cần được đặt trong tổng thể quản lý tài nguyên nước, quy hoạch đô thị và quản trị rủi ro thiên tai.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành phát biểu tại Hội thảo.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành phát biểu tại Hội thảo.

Theo Thứ trưởng Lê Công Thành, Thông báo số 117 ngày 4/7/2026 của Văn phòng Trung ương Đảng về công tác phòng, chống bão lũ, thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu đã yêu cầu chuyển mạnh từ ứng phó đơn thuần sang quản trị rủi ro; từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa từ sớm, từ xa; từ cách làm chủ yếu dựa vào kinh nghiệm sang dựa trên dữ liệu, khoa học, công nghệ và pháp luật. Đặc biệt, công tác phòng ngừa cần đi trước một bước, từ quy hoạch, đầu tư, tiêu chuẩn xây dựng, hành lang thoát lũ đến quản lý sông, suối, thoát nước đô thị và cảnh báo sớm.

Tại Kết luận số 75 ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu trong thời kỳ mới, định hướng chuyển từ tư duy đối phó sang chủ động ứng phó; từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro; từ quản lý phân tán theo ngành, địa giới hành chính sang quản trị tổng hợp, liên ngành, liên vùng cũng được nhấn mạnh. Đây là cơ sở quan trọng để cụ thể hóa cách tiếp cận mới trong quản lý ngập lụt đô thị và quản lý lưu vực sông.

Kết luận số 75 đồng thời đặt ra yêu cầu quy hoạch, định hướng phát triển phải nằm trong giới hạn sinh thái, phù hợp khả năng chịu tải của môi trường; chú trọng các giải pháp dựa vào tự nhiên, hạ tầng xanh tại đô thị và khu dân cư; phục hồi nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm và đầu tư hạ tầng có khả năng chống chịu với bão lũ, ngập úng, hạn hán và tác động của biến đổi khí hậu.

Toàn cảnh Hội thảo.

Toàn cảnh Hội thảo.

Theo PGS.TS Đặng Minh Hải, Phó Trưởng khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước, Trường Đại học Thủy lợi, khoảng 90% hệ thống thoát nước tại các đô thị Việt Nam hiện là hệ thống thoát nước chung, đồng thời đảm nhiệm tiêu thoát nước mưa, nước thải và các loại nước khác. Phần lớn hệ thống này được xây dựng từ 40-60 năm trước. Trong khi đó, các hệ thống thoát nước trước đây thường được thiết kế với lượng mưa khoảng 50-100 mm. Những năm gần đây, ngập lụt xuất hiện ở nhiều loại hình đô thị, từ miền núi, đồng bằng đến ven biển. Tùy vị trí địa lý và đặc điểm lưu vực, cơ chế gây ngập tại mỗi đô thị cũng khác nhau.

Trong đó, riêng đối với Hà Nội, PGS.TS Đặng Minh Hải cho biết, ngập lụt chủ yếu xuất phát từ mưa. Khu vực trung tâm thành phố nằm trong hệ thống đê sông Hồng nên ít chịu tác động trực tiếp từ lũ sông, song khả năng tiêu thoát nước vẫn phụ thuộc lớn vào năng lực của hệ thống thoát nước đô thị. Theo Quy hoạch thoát nước Hà Nội được ban hành năm 2013, thành phố đã triển khai nhiều dự án công trình. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện vẫn còn khoảng cách lớn so với yêu cầu. Do đó, cần đánh giá lại năng lực của hệ thống thoát nước để phân định rõ tình trạng ngập nào nằm trong điều kiện thiết kế và ngập nào xảy ra khi vượt quá tần suất thiết kế. Đây là cơ sở để người dân nhận biết mức độ rủi ro và chủ động thích ứng.

Hướng tới hệ thống chống ngập đa lớp

Ông Kobayashi Kenichi, Phó Trưởng Đại diện JICA tại Việt Nam cho biết, Nhật Bản cũng từng đối mặt với nhiều khó khăn trong quản lý ngập lụt đô thị và lưu vực sông trong quá trình đô thị hóa. Thông qua hợp tác với Việt Nam, JICA kỳ vọng kinh nghiệm của Nhật Bản sẽ góp phần hỗ trợ Việt Nam xây dựng các chính sách và giải pháp toàn diện nhằm giảm nguy cơ ngập lụt, đặc biệt trong điều kiện mưa lớn, bão lũ và biến đổi khí hậu.

Ông Kobayashi Kenichi, Phó Trưởng Đại diện JICA tại Việt Nam chia sẻ tại Hội thảo.

Ông Kobayashi Kenichi, Phó Trưởng Đại diện JICA tại Việt Nam chia sẻ tại Hội thảo.

Tại Hội thảo, các chuyên gia Nhật Bản chia sẻ kinh nghiệm về quản lý ngập lụt đô thị theo cách tiếp cận tổng thể lưu vực sông, trong đó có kinh nghiệm tại khu vực Osaka; quản lý ngập tại các thành phố vùng trũng, ven biển; phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu. Ông Aoyama Yoshihiko, chuyên gia JICA cho biết, theo chỉ đạo của Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản (MLIT), chính quyền địa phương là đơn vị trực tiếp điều phối và triển khai các biện pháp giảm thiểu lũ lụt, ngập úng đô thị.

Theo ông Aoyama Yoshihiko, đối với một lưu vực sông có thể triển khai ba nhóm giải pháp chính gồm kiểm soát dòng chảy, trữ nước và chuẩn bị, ứng phó với thiên tai. Tùy điều kiện từng lưu vực, các giải pháp sẽ được lựa chọn phù hợp. Điểm quan trọng là phải liên kết hệ thống thoát nước đô thị với các công trình thủy lợi, sông ngòi và đê điều để hình thành một hệ thống đồng bộ, nâng cao hiệu quả tiêu thoát nước.

Trong đó, kiểm soát dòng chảy hướng tới tăng khả năng tiêu thoát tự nhiên thông qua cải tạo, nạo vét hoặc mở rộng lòng sông. Giải pháp trữ nước gồm hồ điều hòa, hồ chứa và các không gian có khả năng lưu giữ nước mưa, giảm áp lực cho hệ thống thoát nước khi mưa lớn. Bên cạnh đó, cần giảm dòng chảy bề mặt thông qua các công trình lưu trữ nước mưa tại các dự án phát triển đô thị, đặc biệt là các dự án do doanh nghiệp tư nhân đầu tư.

Khi mưa lớn vượt quá khả năng tiêu thoát của đô thị, cần chuyển sang nhóm giải pháp chuẩn bị và ứng phó, trong đó xây dựng bản đồ cảnh báo ngập úng, xác định khu vực có nguy cơ cao và chuẩn bị phương án sơ tán người dân khi cần thiết. Đây là cách tiếp cận nhằm giảm thiệt hại trong trường hợp các công trình kiểm soát và tiêu thoát nước không đủ khả năng ứng phó với hiện tượng thời tiết cực đoan.

GS.TS. Nguyễn Trung Việt, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi chia sẻ tại Hội thảo.

GS.TS. Nguyễn Trung Việt, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi chia sẻ tại Hội thảo.

Từ thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế, các chuyên gia tại Hội thảo cho rằng, Việt Nam cần chuyển từ tư duy xử lý từng điểm ngập sang quản lý tổng hợp rủi ro ngập theo lưu vực. Định hướng là xây dựng hệ thống chống ngập đa lớp, kết hợp công trình thoát nước với quản lý đất đai, không gian trữ nước và điều hành thông minh. Mục tiêu không phải loại bỏ hoàn toàn mọi trường hợp ngập mà giảm độ sâu, thời gian, phạm vi và thiệt hại do ngập xuống mức chấp nhận được.

Trong giai đoạn 2026-2035, các chuyên gia cũng đề xuất ưu tiên hoàn thiện thể chế, cơ sở dữ liệu và các lưu vực có nguy cơ cao thay vì đầu tư dàn trải. Các đô thị lớn cần xây dựng, cập nhật bản đồ rủi ro, mô hình dự báo và chương trình đầu tư theo mức độ dịch vụ. Đồng thời, các dự án phát triển mới phải kiểm soát dòng chảy tại nguồn và dành đủ không gian cho nước. Việc đánh giá hiệu quả đầu tư cần dựa trên mức giảm độ sâu, diện tích, thời gian ngập và thiệt hại kinh tế - xã hội. Về dài hạn, mục tiêu là hình thành hệ thống thoát nước linh hoạt, có khả năng tự giám sát, kết hợp giữa công trình truyền thống, giải pháp thoát nước bền vững, hạ tầng xanh - xanh dương, công nghệ số và quản trị cộng đồng. Qua đó, từng bước chuyển từ chống ngập bị động sang quản lý rủi ro chủ động, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển đô thị bền vững.

GS.TS Nguyễn Trung Việt, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, cho biết, với thế mạnh về đào tạo và nghiên cứu trong lĩnh vực tài nguyên nước, thủy lợi, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, Trường xác định các giải pháp quản lý, chính sách chỉ phát huy hiệu quả khi dựa trên nền tảng khoa học, dữ liệu tin cậy và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đối với quản lý ngập lụt đô thị và lưu vực sông, Trường đã triển khai nhiều chương trình nghiên cứu, tư vấn thực tiễn; chủ trì các đề tài trọng điểm, xây dựng bản đồ ngập lụt, mô hình dự báo, nghiên cứu chỉnh trị thủy lực, đánh giá rủi ro thiên tai và đề xuất giải pháp kỹ thuật thích ứng cho Hà Nội, Hải Phòng, các tỉnh duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long.

Nguyễn Hạnh

Có thể bạn quan tâm