Khó khăn trong quản lý lò đốt chất thải rắn

Ở những tuyến huyện, xã đang có xu hướng đầu tư đại trà lò đốt chất thải rắn sinh hoạt công suất nhỏ. Đây là một giải pháp để bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, nếu không có sự quản lý tốt thì các lò đốt này lại tác động ngược lại, không tốt tới môi trường, sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế, xã hội.
Xuất hiện nhiều lò đốt chất thải rắn sinh hoạt công suất nhỏ

Báo cáo của Khoa Địa chất (Trường Đại học Mỏ - Địa chất), trên cả nước có khoảng 50 lò đốt chất thải rắn sinh hoạt, đa số là các lò đốt cỡ nhỏ, công suất xử lý dưới 500kg/giờ, các thông số chi tiết về tính năng kỹ thuật khác của lò đốt chất thải chưa được thống kê đầy đủ. Trong đó có khoảng 2/3 lò đốt được sản xuất, lắp ráp trong nước.

Theo ông Nguyễn Văn Lâm- Trưởng khoa Địa chất: Qua khảo sát thực tế cho thấy, nhiều lò đốt hiệu quả xử lý chưa cao, khí thải phát sinh chưa được kiểm soát chặt chẽ, có nguy cơ phát sinh khí Dioxin, Furan- là nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí xung quanh… Ngay cả với một số lò đốt công suất lớn, hiện cũng tồn tại các vấn đề như: Phân loại, nạp liệu chưa tối ưu; chưa thu hồi được năng lượng từ quá trình xử lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm chưa đảm bảo; chưa có hệ thống thu hồi nước rác; không có hệ thống xử lý nước rỉ rác; xử lý mùi, côn trùng chưa triệt để.

Một số lò đốt công suất nhỏ, không có hệ thống xử lý khí thải và trên ống khói không có điểm lấy mẫu khí thải… đã dẫn tới việc xử lý chất thải phân tán, khó kiểm soát việc phát thải ô nhiễm thứ cấp vào môi trường không khí. Tuy nhiên, lượng chất thải rắn phát sinh ngày càng nhiều (khoảng 800 ngàn tấn/năm), đây vẫn được xem là giải pháp tình thế, giải quyết nhanh chóng vấn đề chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn, đặc biệt với khu vực nông thôn.

Do vậy, giải pháp hiện nay nhằm giảm thiểu những tác động từ các lò rác này tới môi trường, nhiều chuyên gia khuyến cáo, các địa phương cần đẩy mạnh việc tuyên truyền, đào tạo và tổ chức các khóa tập huấn cho doanh nghiệp về sản xuất sạch hơn, hoạt động giảm thiểu phát sinh chất thải rắn; quy trình thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế chất thải rắn theo đúng các quy định của pháp luật. Đồng thời, nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích thu gom, vận chuyển và đầu tư cơ sở xử lý chất thải phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế- xã hội địa phương…

Theo ông Nguyễn Văn Lâm, nhà nước cần có chính sách ưu đãi, khuyến khích các doanh nghiệp hành nghề quản lý chất thải nguy hại, đầu tư các thiết bị, công nghệ xử lý chất thải nguy hại theo hướng thân thiện môi trường; khuyến khích các cơ sở xử lý không có giấy phép và cơ sở hoạt động trong các làng nghề chuyển đổi mô hình sản xuất (áp dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường...) hoặc lắp đặt các thiết bị, hệ thống xử lý để đáp ứng các quy định về bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển và vận hành cơ sở xử lý chất thải rắn; tăng dần nguồn thu phí vệ sinh, giảm dần hỗ trợ từ ngân sách cho hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải rắn. Đồng thời, chú trọng nghiên cứu, phát triển công nghệ xử lý chất thải rắn theo hướng giảm thiểu lượng chất thải rắn chôn lấp, tăng cường tỷ lệ tái chế, tái sử dụng và thu hồi năng lượng từ chất thải. Áp dụng các công nghệ tái chế hiện đại, thân thiện với môi trường thay thế các công nghệ cũ, lạc hậu ở các cơ sở tái chế.

Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các đô thị trên toàn quốc tăng trung bình 10-16% mỗi năm, chiếm khoảng 60-70% tổng lượng chất thải rắn đô thị. Tại một số đô thị, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt phát sinh chiếm đến 90% tổng lượng chất thải rắn đô thị.
Phương Tâm