Ấn Độ, "vương quốc gia vị" với bề dày lịch sử hàng nghìn năm đang mở ra dư địa rộng lớn cho các sản phẩm quế, hồi và nhiều loại gia vị khác từ vùng đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam. Làm sao để tận dụng cơ hội này, biến lợi thế thiên nhiên thành động lực giảm nghèo bền vững? Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Trung Thướng, Tham tán Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ về tiềm năng và giải pháp đưa quế, hồi, gia vị vùng đồng bào dân tộc thiểu số thâm nhập thị trường Ấn Độ.
Mảnh đất màu mỡ cho hương vị Việt
- Ấn Độ là một trong những thị trường tiêu thụ lớn về gia vị. Ông đánh giá như thế nào về tiềm năng và dư địa cho các sản phẩm quế, hồi và các loại gia vị của đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam tại thị trường này?
Ông Bùi Trung Thướng: Khi nói đến Ấn Độ, người ta thường nhắc ngay đến “vương quốc gia vị”. Đây là đất nước đã khai mở “con đường gia vị” từ hơn 4.000 năm trước, trở thành chiếc cầu nối thương mại quan trọng giữa Nam Á và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Gia vị không chỉ là thành phần trong ẩm thực, mà còn gắn chặt với y học cổ truyền và văn hóa tâm linh.

Ông Bùi Trung Thướng, Tham tán Thương mại, Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ
Khác biệt lớn nhất giữa Việt Nam và Ấn Độ là ở Việt Nam, gia vị chủ yếu phục vụ nấu nướng; còn ở Ấn Độ, gia vị còn được dùng làm dược liệu, sản phẩm chăm sóc sức khỏe, thậm chí gắn với các nghi thức tín ngưỡng. Thói quen này tạo ra nhu cầu bền vững, khó thay thế. Với dân số gần 1,5 tỷ người, trong đó tầng lớp trung lưu và thượng lưu ngày càng tăng, dung lượng thị trường gia vị tại Ấn Độ khổng lồ và liên tục mở rộng.
Quy mô ngành gia vị Ấn Độ hiện được định giá hơn 10 tỷ USD. Ấn Độ nhập khẩu không chỉ gia vị thô để tái xuất hoặc chế biến, mà còn các sản phẩm tinh chế như tinh dầu, chiết xuất dùng trong dược phẩm. Đây chính là dư địa mà sản phẩm quế, hồi từ vùng cao Việt Nam có thể khai thác.
Thực tế, quế và hồi Việt Nam đã tạo được dấu ấn rõ rệt tại thị trường này. Nhắc đến quế, nhiều đối tác Ấn Độ đều ấn tượng với đặc tính tinh dầu cao, hương thơm mạnh và vị cay nồng đặc trưng, những yếu tố khó tìm thấy ở nguồn cung khác. Đặc sản quế hồi vùng cao, vốn gắn với sinh kế của hàng trăm nghìn hộ đồng bào dân tộc thiểu số, đang có cơ hội vàng để khẳng định thương hiệu.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận thẳng thắn rằng thị trường Ấn Độ không dễ tính. Rào cản kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải chủ động nâng cấp từ khâu sản xuất đến chế biến, từ bao bì đến thương hiệu. Nếu không, lợi thế tự nhiên sẽ nhanh chóng bị xói mòn.
- Thời gian qua, những hoạt động xúc tiến thương mại cụ thể nào đã và đang được Bộ Công Thương cũng như thương vụ triển khai để hỗ trợ đưa các sản phẩm quế, hồi, gia vị nói riêng và nhiều sản phẩm khác từ vùng đồng bào dân tộc thiểu số sang thị trường Ấn Độ? Kết quả ra sao, thưa ông?
Ông Bùi Trung Thướng: Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Công Thương, Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ luôn xem xúc tiến thương mại là nhiệm vụ trọng tâm. Chúng tôi triển khai song song cả hình thức trực tiếp và trực tuyến, tạo ra mạng lưới kết nối đa dạng, thực chất.
Một là, tổ chức đoàn xúc tiến thương mại quốc gia, đưa doanh nghiệp Việt Nam sang Ấn Độ khảo sát, tiếp cận trực tiếp hệ thống phân phối, nhà nhập khẩu. Song song, chúng tôi cũng mời các đoàn doanh nghiệp Ấn Độ đến tận vùng nguyên liệu, những cánh rừng quế hồi ở Lào Cai, Yên Bái, Lạng Sơn để chứng kiến quy trình sản xuất, ký hợp đồng mua bán tại chỗ. Việc “đưa người mua đến tận vườn” không chỉ giúp củng cố niềm tin, mà còn tạo cơ hội để bà con vùng cao trực tiếp gặp gỡ đối tác quốc tế.
Hai là, tổ chức hội thảo, tọa đàm trực tuyến đều đặn hàng tháng. Nội dung không chỉ giới thiệu thị trường, mà còn hướng dẫn doanh nghiệp về quy định pháp lý, văn hóa kinh doanh, phương thức thanh toán và cảnh báo rủi ro. Có thể nói, thương vụ đóng vai trò như một “người dẫn đường”, giúp doanh nghiệp tránh va vấp khi bước vào một thị trường đầy khác biệt như Ấn Độ.
Ba là, kết hợp mô hình “trực tuyến - trực tiếp”, trong đó các doanh nghiệp Việt Nam và Ấn Độ tập trung tại điểm cầu hai nước, giao thương qua nền tảng số song vẫn có sự hiện diện thực địa. Cách làm này vừa tiết kiệm chi phí, vừa duy trì tính hiệu quả.
Những hoạt động này đã mang lại kết quả tích cực. Quế và hồi Việt Nam không còn xa lạ với người tiêu dùng Ấn Độ. Các sản phẩm có lợi thế đặc trưng ngày càng khẳng định vị trí, không chỉ nhờ chất lượng mà còn nhờ sự đồng hành của các chương trình xúc tiến. Quan trọng hơn, thành công ấy trực tiếp mang lại thu nhập bền vững hơn cho bà con dân tộc thiểu số, những người gắn bó trọn đời với cây quế, cây hồi.

Vương quốc gia vị Ấn Độ mở ra dư địa rộng lớn cho quế, hồi. Ảnh minh hoạ
Hai “chìa khóa” vàng: Thương hiệu và công nghệ
- Từ kinh nghiệm xúc tiến thương mại tại Ấn Độ, ông có thể chia sẻ những “chìa khóa” quan trọng mà doanh nghiệp Việt Nam cần nắm chắc khi muốn khai thác thị trường này?
Ông Bùi Trung Thướng: Nếu phải chọn, tôi nhấn mạnh hai “chìa khóa” then chốt là thương hiệu và công nghệ.
Về thương hiệu: Một sản phẩm dù chất lượng đến đâu nhưng không có thương hiệu sẽ khó đi xa. Ngược lại, khi đã có thương hiệu, giá trị sản phẩm sẽ tự động được nâng cao. Điều này đúng ở cả thị trường nội địa lẫn quốc tế. Nhiều nước vốn không sở hữu nguyên liệu đặc sản nhưng nhờ phát triển thương hiệu tốt, họ vẫn tạo dựng được chỗ đứng vững chắc. Trong khi đó, Việt Nam có đầy đủ lợi thế tự nhiên, song thương hiệu của nhiều sản phẩm vùng cao vẫn mờ nhạt. Muốn đi xa, phải kiên trì đầu tư bài bản, xây dựng thương hiệu dựa trên chỉ dẫn địa lý, chứng nhận chất lượng và chiến lược quảng bá chuyên nghiệp.
Về công nghệ: Đây là “mấu chốt” để giải bài toán giá trị gia tăng. Người Ấn Độ có thể tận dụng mọi phần của nông sản, từ vỏ, lá, hạt để tạo ra sản phẩm mới. Ví dụ, từ hạt lúa, họ chế biến ra dầu cám gạo; từ phụ phẩm, họ tạo ra dược liệu. Việt Nam cũng cần đi theo hướng đó thay vì chỉ bán quả vải tươi, có thể chế biến tinh dầu từ vỏ, trà từ lá, dược liệu từ hạt. Như vậy, một loại nông sản sẽ mang lại nhiều nguồn thu nhập, giảm áp lực mùa vụ.
Bên cạnh đó, tôi muốn nhấn mạnh yếu tố liên kết. Nếu các hợp tác xã, doanh nghiệp vùng cao cạnh tranh bằng cách hạ giá, thì cuối cùng lợi nhuận sẽ bị bào mòn, thậm chí mất cả thị trường. Bài học ở Ấn Độ cho thấy từng có sản phẩm Việt chiếm đến 90% thị phần, nhưng vì thiếu đoàn kết, mạnh ai nấy làm, cuối cùng mất trắng. Do vậy, đi cùng nhau, phân vai rõ ràng, gắn kết trong chuỗi giá trị mới là con đường bền vững.
- Trong thời gian tới, Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ sẽ có những chương trình xúc tiến thương mại nào để hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam? Ông có khuyến nghị gì cho các hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ vùng đồng bào dân tộc thiểu số khi bước ra thị trường Ấn Độ?
Ông Bùi Trung Thướng: Thị trường Ấn Độ hiện được dự báo sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới. Nếu không tận dụng ngay, có thể chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội lịch sử. Do đó, thời gian tới, thương vụ tập trung vào bốn định hướng:
Một là, tăng cường niềm tin và bản lĩnh cho doanh nghiệp Việt Nam. Khi đã chinh phục được thị trường nội địa, việc vươn ra quốc tế là bước đi tất yếu. Thị trường Ấn Độ rộng lớn, đa dạng phân khúc, từ tầng lớp siêu giàu đòi hỏi sản phẩm tinh tế, đến người dân thu nhập thấp vẫn có nhu cầu gia vị cơ bản. Điều quan trọng là doanh nghiệp phải đủ tự tin để bước ra.
Hai là, tổ chức đoàn doanh nghiệp tham gia hội chợ, triển lãm quy mô quốc tế. Chẳng hạn, cuối tháng 9 này sẽ diễn ra hội chợ World Food tại Ấn Độ, quy tụ 70 quốc gia. Đây là cơ hội không chỉ để tiếp cận thị trường Ấn Độ, mà còn mở ra cánh cửa tới hàng chục thị trường khác. Thương vụ sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam từ khâu gian hàng đến kết nối đối tác.
Ba là, đẩy mạnh xúc tiến thương mại số. Thương vụ từng tiên phong tổ chức triển lãm trực tuyến từ năm 2021, giữa thời điểm dịch Covid-19 khốc liệt. Kinh nghiệm này sẽ tiếp tục được phát huy, kết hợp với nền tảng thương mại điện tử, giúp sản phẩm vùng cao đến gần hơn với người tiêu dùng Ấn Độ.
Bốn là, nâng cao chất lượng và đáp ứng tiêu chuẩn đặc thù. Ấn Độ có tới 70% dân số ăn chay, kèm theo đó là những yêu cầu nghiêm ngặt về Halal, nhãn mác, an toàn thực phẩm. Bao bì không chỉ để chứa đựng sản phẩm, mà còn là “tấm hộ chiếu” văn hóa, giúp tạo ấn tượng ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Đối với hợp tác xã và doanh nghiệp nhỏ vùng dân tộc thiểu số, lời khuyên của tôi là hãy kiên trì đi cùng nhau. Thay vì mỗi đơn vị tự bơi, cần hình thành mô hình liên kết như một “hệ sinh thái”, trong đó mỗi đơn vị đảm nhận một vai trò người làm nguyên liệu, người chế biến, người lo logistics, người làm thương mại. Như vậy, tất cả cùng hưởng lợi, tránh cạnh tranh triệt tiêu.
Theo ông Bùi Trung Thướng, nếu biết khai thác đúng hướng, những sản phẩm quế, hồi, thảo quả… không chỉ khẳng định vị thế tại thị trường Ấn Độ, mà còn trở thành biểu tượng cho sức sống, bản lĩnh và khát vọng vươn xa của đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần nâng tầm thương hiệu nông sản Việt Nam trên trường quốc tế.