Hình thành 'sếu đầu đàn' trong ngành công nghiệp vật liệu, cơ khí

Công nghiệp vật liệu và cơ khí, chế tạo là nền tảng thực hiện các mục tiêu lớn của đất nước. Vì vậy, cần hình thành những doanh nghiệp quốc gia dẫn dắt trong lĩnh vực này.

Cần thiết có doanh nghiệp quốc gia dẫn dắt về vật liệu, cơ khí

Theo tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Thông  báo số 66-TB/VPTW ngày 25/5/2026, công nghiệp vật liệu cần được xác định là  ngành công nghiệp nền tảng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất  nước; là yếu tố đầu vào thiết yếu, điều kiện tiên quyết để phát triển các lĩnh vực  kinh tế quan trọng, các ngành công nghệ chiến lược và xây dựng nền kinh tế độc  lập, tự chủ, tự cường. 

Trong giai đoạn phát triển mới, cần có nhận thức và cách tiếp cận mới đối với công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo; coi đây không chỉ là các ngành sản xuất mà còn là nền tảng của năng lực công nghệ quốc gia, năng lực đổi  mới sáng tạo quốc gia và năng lực cạnh tranh quốc gia. 

Tại Hội thảo “Công nghiệp vật liệu và Công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới”, nhiều đại biểu cũng đã nhấn mạnh đến vai trò, tầm quan trọng của ngành công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Đồng chí Nguyễn Thanh Hải cho rằng, cần thiết xây dựng cơ chế hình thành các doanh nghiệp quốc gia dẫn dắt trong lĩnh vực vật liệu và cơ khí.

Đồng chí Nguyễn Thanh Hải cho rằng, cần thiết xây dựng cơ chế hình thành các doanh nghiệp quốc gia dẫn dắt trong lĩnh vực vật liệu và cơ khí.

Đồng chí Nguyễn Thanh Hải, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trưởng của Quốc hội nhấn mạnh, tại thị trường Việt Nam, công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí không chỉ là các ngành sản xuất thông thường mà còn là nền tảng để thực hiện các mục tiêu lớn của đất nước đến năm 2030 và năm 2045. Đồng thời là cơ sở để triển khai các chương trình, dự án chiến lược quốc gia như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, điện hạt nhân, công nghiệp bán dẫn, công nghiệp quốc phòng, trung tâm dữ liệu quốc gia, hạ tầng số, năng lượng tái tạo và các ngành công nghệ chiến lược khác. 

Tuy nhiên, dù được sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ, ngành công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Nhận thức về vai trò của công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí chưa thực sự tương xứng với vai trò là ngành công nghiệp nền tảng và công nghiệp gốc; thiếu chiến lược tổng thể mang tính quốc gia; hệ thống thể chế, chính sách còn phân tán; thiếu cơ chế đủ mạnh để hình thành các doanh nghiệp dẫn dắt quốc  gia; nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu…

Trong giai đoạn mới, để ngành công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo có những bước phát triển đột phá, trong đó hình thành được những doanh nghiệp quốc gia dẫn dắt trong lĩnh vực này, đồng chí Nguyễn Thanh Hải cho rằng, cần thiết xây dựng cơ chế hình thành các doanh nghiệp quốc gia dẫn dắt trong lĩnh vực vật liệu và cơ khí.

Trong đó, có chính sách lựa chọn, hỗ trợ và phát triển một số doanh nghiệp lớn có tiềm năng trở thành doanh nghiệp đầu đàn trong các lĩnh vực: luyện  kim; vật liệu chiến lược; vật liệu bán dẫn; thiết bị năng lượng; robot; cơ khí  chính xác; thiết bị đường sắt tốc độ cao; thiết bị điện hạt nhân. Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. 

TS. Nguyễn Chỉ Sáng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam đề xuất, cần phát triển doanh nghiệp vật liệu, cơ khí nòng cốt theo cơ chế lựa chọn có điều kiện, giao nhiệm vụ có kiểm soát và đánh giá định kỳ.

TS. Nguyễn Chỉ Sáng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam đề xuất, cần phát triển doanh nghiệp vật liệu, cơ khí nòng cốt theo cơ chế lựa chọn có điều kiện, giao nhiệm vụ có kiểm soát và đánh giá định kỳ.

Cùng quan điểm, TS. Nguyễn Chỉ Sáng, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam “hiến kế”, cần xác lập rõ trong chủ trương phát triển công nghiệp quốc gia rằng công nghiệp cơ khí, vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp gốc, có vai trò trực tiếp đối với tự chủ kinh tế, tự chủ công nghiệp, an ninh năng lượng, an ninh hạ tầng và năng lực quốc phòng.

“Cơ khí không nên chỉ được hỗ trợ như một ngành sản xuất thông thường, mà cần được đặt trong các chương trình công nghiệp chiến lược gắn với các dự án lớn của quốc gia”, TS. Nguyễn Chỉ Sáng nhấn mạnh.

Hiện thực hóa khát vọng này, theo TS. Nguyễn Chỉ Sáng, cần phát triển doanh nghiệp vật liệu, cơ khí nòng cốt theo cơ chế lựa chọn có điều kiện, giao nhiệm vụ có kiểm soát và đánh giá định kỳ.

Không thể phát  triển ngành cơ khí chỉ bằng hỗ trợ dàn trải cho mọi doanh nghiệp. Cần lựa chọn 15-20 doanh nghiệp nòng cốt đến năm 2045 trong các lĩnh vực đường sắt, năng  lượng, khai khoáng, đóng tàu, robot - tự động hóa, thiết bị điện, vật liệu và cơ khí  chính xác. Các doanh nghiệp này phải có năng lực tài chính, quản trị, R&D, engineering, năng lực dẫn dắt chuỗi cung ứng nội địa và cam kết tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước”, TS. Nguyễn Chỉ Sáng đề xuất.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí Phan Đăng Phong cũng đề xuất cơ chế chính sách hỗ trợ cần tập trung có trọng tâm, trọng điểm.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí Phan Đăng Phong cũng đề xuất cơ chế chính sách hỗ trợ cần tập trung có trọng tâm, trọng điểm.

Tương tự, để có những doanh nghiệp quốc gia dẫn dắt tiến trình phát triển ngành công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo, ông Phan Đăng Phong, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí, Bộ Công Thương cũng đề xuất cần Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế, chính sách đặc thù phát triển các sản phẩm cơ khí trọng điểm giai đoạn 2026-2045.

Mục tiêu của nghị quyết là phá vỡ vòng luẩn quẩn “năng lực yếu vì thiếu cơ hội, thiếu cơ hội vì năng lực yếu”; biến  các dự án lớn của quốc gia thành đơn hàng thực tế cho doanh nghiệp trong nước; từ đó tạo động lực đầu tư vào thiết kế, tích hợp hệ thống, thử nghiệm, chứng nhận và quản trị dự án. 

Cũng theo ông Phong, cơ chế, chính sách đột phá cần tập trung vào các lĩnh vực có dung lượng thị trường lớn, tác động lan tỏa cao và có khả năng đưa doanh nghiệp Việt Nam tiến tới tự chủ các khâu thiết kế, tích hợp hệ thống, quản lý dự án và chế tạo thiết bị. 

“Hỗ trợ phải có điều kiện, có thời hạn, có tiêu chí lượng hóa và gắn với kết quả đầu  ra; không dàn trải cho toàn ngành mà tập trung vào sản phẩm cơ khí trọng điểm, doanh nghiệp nòng cốt, dự án ưu tiên và các khâu có giá trị gia tăng cao”, Viện trưởng Phan Đăng Phong kiến nghị và cho rằng, giai đoạn 2026-2035, phát triển năng lực nội địa bằng cách lựa chọn ít nhất  3 dự án đầu tiên trong mỗi lĩnh vực: đường sắt đô thị, đường sắt liên vùng, điện  gió ngoài khơi, khai thác bauxite, chế biến alumin và điện phân nhôm.

Hình thành hệ sinh thái "3 Nhà"

Từ thực tiễn hoạt động, ông Vũ Huy Hoàng, Ban Khoa học công nghệ và Chuyển đổi số, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) khẳng định, Petrovietnam sẵn sàng phát huy vai trò của một Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia trong phát triển công nghiệp cơ khí, chế tạo Việt Nam. Những thành tựu trong giàn khoan tự nâng, công trình biển, điện gió ngoài khơi, trạm biến áp ngoài khơi, đường ống, bồn chứa, lọc hóa dầu, nhiệt điện, phân bón và hóa chất cho thấy Việt Nam có thể làm chủ nhiều sản phẩm công nghiệp nền tảng có độ phức tạp cao, từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Đại diện PVN kiến nghị, hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn hóa...

Đại diện PVN kiến nghị, hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn hóa...

Nhưng để làm được điều đó, đại diện PVN kiến nghị, hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn hóa, chứng nhận, kiểm định, thiết kế số, mô phỏng số, sản xuất thông minh, quản trị carbon và truy xuất nguồn gốc sản phẩm trong toàn bộ vòng đời công trình.

Song song đó, hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học, chuyên gia và nhà khoa học; trong đó doanh nghiệp lớn như Petrovietnam giữ vai trò đầu kéo thị trường, đầu kéo công nghệ và đầu kéo chuỗi cung ứng.

Ông Nguyễn Văn Tuân, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than  - Khoáng sản Việt Nam đề xuất hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, tự động hóa, chuyển đổi số, phát triển nhà máy thông minh và nâng cao năng lực chế tạo thiết bị công nghệ cao.

Ông Nguyễn Văn Tuân, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than  - Khoáng sản Việt Nam đề xuất hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, tự động hóa, chuyển đổi số, phát triển nhà máy thông minh và nâng cao năng lực chế tạo thiết bị công nghệ cao.

Trong phát triển công nghiệp vật liệu và công nghiệp cơ khí, chế tạo, ông Nguyễn Văn Tuân, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đề xuất, Đảng, Nhà nước, Chính phủ có chính sách tháo các khó khăn cho hoạt động khai thác khoáng sản kim loại nhằm bảo đảm nguồn nguyên liệu cho ngành luyện kim và công nghiệp chế tạo trong nước.

Phát triển chuỗi liên kết từ khai thác, chế biến khoáng sản đến sản xuất vật liệu, cơ khí chế tạo và tiêu thụ sản phẩm, tạo hệ sinh thái công nghiệp đồng bộ và bền vững trên cả nước.

Ngoài ra, có cơ chế ưu tiên sử dụng sản phẩm cơ khí trong nước đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, chất lượng và hiệu quả kinh tế và định hướng phát triển chế biến chuyên sâu các loại loại vật liệu thép hợp kim tiêu chuẩn cao và các vật liệu chuyên dụng phục vụ khai khoáng, năng lượng và cơ khí chế tạo; từng bước giảm phụ thuộc vào nguồn vật liệu nhập khẩu.

Cuối cùng, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, tự động hóa, chuyển đổi số, phát triển nhà máy thông minh và nâng cao năng lực chế tạo thiết bị công nghệ cao. Tăng cường hỗ trợ hoạt động nghiên cứu phát triển, thiết kế, chế tạo thử nghiệm và thương mại hóa sản phẩm mới; tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia các chương trình khoa học công nghệ trọng điểm quốc gia.

Theo kịch bản tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm và lấy năm 2025 làm năm cơ sở, tổng dung lượng thị trường cơ khí Việt Nam giai đoạn 2026-2045 ước đạt khoảng 7821 tỷ USD. Trong đó, ở các thị trường trọng điểm ô tô 721 tỷ USD, điện gió ngoài khơi khoảng 183,6 tỷ USD; ba lĩnh vực đường sắt đô thị, đường sắt liên vùng và đường sắt tốc độ cao khoảng 161,4 tỷ USD; khai thác và chế biến khoáng sản khoảng 42 tỷ USD; điện khí/LNG khoảng 42 tỷ USD; điện hạt nhân khoảng 113,2 tỷ USD, sản xuất kim loại đúc sẵn 216 tỷ USD.

Hoàng Hòa - Nam Nguyễn

Có thể bạn quan tâm