Để Việt Nam giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt biển trong mối quan hệ giữa bảo vệ chủ quyền, phát triển kinh tế và chăm lo đời sống Nhân dân. Người từng căn dặn: "Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó" (trích Truyền thống Hải quân nhân dân Việt Nam (1955 - 2005), Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2005, tr. 80); "Đồng bằng là nhà mà biển là cửa. Giữ nhà mà không giữ cửa có được không?" (trích Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 311).
Vào ngày 31/3/1959, về thăm cán bộ, nhân dân Cát Hải, Cát Bà (Hải Phòng), Bác căn dặn: "Rừng là vàng, biển là bạc, rừng biển của ta do nhân dân ta làm chủ, phải ra sức khai thác, bảo vệ, phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để đời sống nhân dân ngày một ấm no, hạnh phúc".
Tư tưởng "giữ gìn" và "làm chủ" tạo nên chỉnh thể thống nhất: Giữ biển là bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và gìn giữ môi trường hòa bình. Làm chủ biển là hiểu nguồn lực, tổ chức khai thác có hiệu quả, bảo vệ hệ sinh thái và đưa thành quả từ biển phục vụ Nhân dân.
Một góc khu bến số 1, số 2 Lạch Huyện - Hải Phòng
Tư tưởng Hồ Chí Minh về biển đã được Đảng kế thừa, bổ sung và phát triển qua từng giai đoạn. Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2018 xác lập Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Sau 8 năm thực hiện, nhận thức về vị trí của biển được nâng lên, thể chế từng bước hoàn thiện, kinh tế biển tiếp tục phát triển, đời sống người dân ven biển và hải đảo được cải thiện. Tuy nhiên, sự phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, quản trị biển còn phân tán, liên kết ngành và liên kết vùng chưa hiệu quả, khoa học, công nghệ chưa trở thành động lực chủ đạo, nhiều nguồn lực biển vẫn tồn tại chủ yếu dưới dạng tiềm năng.
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nêu rõ yêu cầu "phát triển mạnh các ngành kinh tế biển, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và quản lý tài nguyên biển, phát triển kinh tế biển sâu để khai thác, sử dụng hiệu quả không gian biển. Phát triển đồng bộ các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị sinh thái, chuỗi đô thị, hành lang giao thông đường bộ ven biển"…
Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: "Kinh tế biển chỉ là một thành tố trong mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh". Theo định hướng được người đứng đầu Đảng và Nhà nước nêu rõ, mục tiêu đến năm 2045 là Việt Nam giàu từ biển, phát triển bền vững từ biển, có nền quản trị hiện đại và công nghệ biển tiên tiến.
Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Nghị quyết thể hiện đột phá về tư duy phát triển, chuyển từ khai thác tiềm năng và phát triển kinh tế biển sang xây dựng sức mạnh toàn diện của một quốc gia biển. Biển được xác định là không gian sinh tồn, không gian phát triển chiến lược, cửa ngõ kết nối quốc tế và nền tảng quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Kiến tạo hệ sinh thái kinh tế biển đa ngành, đa giá trị
Nghị quyết số 20-NQ/TW yêu cầu phát triển hệ sinh thái kinh tế biển hiện đại, các ngành phải được tổ chức trong mối liên kết chặt chẽ, cùng sử dụng hạ tầng, dữ liệu, công nghệ, nguồn nhân lực và dịch vụ hỗ trợ thay vì vận hành biệt lập. Đến năm 2030, tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước. Hướng tới hình thành từ 5-6 trung tâm kinh tế biển mạnh, xây dựng 3 khu kinh tế đặc biệt và phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh, có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Trong chiến lược xây dựng quốc gia mạnh từ biển, kinh tế hàng hải và logistics giữ vị trí đặc biệt. Theo Bộ Công Thương, logistics Việt Nam hiện tăng trưởng bình quân 14-16%/năm, quy mô thị trường khoảng 40-42 tỷ USD. Năm 2025, lượng hàng hóa qua hệ thống cảng biển đạt khoảng 960 triệu tấn, trong đó hàng container đạt khoảng 34 triệu TEU. Đội tàu mang cờ Việt Nam có hơn 1.400 tàu với tổng trọng tải khoảng 9,4 triệu DWT.
Quy mô đã mở rộng nhưng hiệu quả vẫn là điểm nghẽn, chi phí logistics của Việt Nam chiếm khoảng 16,8% GDP, cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu. Điều này làm tăng giá thành hàng hóa, thu hẹp lợi nhuận của doanh nghiệp, giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế. Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm chi phí logistics xuống dưới 12% GDP, nâng thị phần vận tải hàng hóa xuất nhập khẩu của đội tàu Việt Nam lên 20%. Muốn vậy, cảng biển phải được kết nối đồng bộ với đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, trung tâm logistics, khu công nghiệp và vùng sản xuất.
Cảng biển cũng cần được phát triển thành trung tâm tổ chức chuỗi cung ứng, hội tụ vận tải, kho bãi, phân phối, tài chính, bảo hiểm và dịch vụ hàng hải. Doanh nghiệp Việt Nam đảm nhận được nhiều khâu có giá trị cao hơn, dòng hàng qua cảng mới thực sự tạo thêm sức mạnh cho nền kinh tế.
Hoạt động khai thác dầu khí tại mỏ Bạch Hổ.
Dầu khí tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng, nguồn thu ngân sách và phát triển công nghiệp, dịch vụ kỹ thuật biển. Thống kê trong 6 tháng đầu năm 2026, Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí đạt sản lượng 2,20 triệu tấn quy dầu, bằng 134% so với cùng kỳ năm 2025; gia tăng trữ lượng đạt 1,58 triệu tấn quy dầu, doanh thu đạt 28.023 tỷ đồng. Hoạt động khai thác dầu thô, khí đốt tự nhiên tăng trưởng mạnh, góp phần bảo đảm nguồn nguyên liệu trong nước trước những biến động của thị trường năng lượng thế giới.
Song dầu khí cũng đứng trước bài toán suy giảm tự nhiên tại các mỏ đang khai thác, chi phí tìm kiếm ngày càng lớn và yêu cầu chuyển dịch năng lượng ngày càng rõ nét. Do đó, phát triển ngành trong giai đoạn mới phải gắn với làm chủ công nghệ biển sâu, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, phát triển các dịch vụ kỹ thuật có khả năng cạnh tranh quốc tế và sử dụng nguồn lực tích lũy từ dầu khí để mở rộng sang năng lượng tái tạo, hydrogen, amoniac xanh cùng các ngành công nghiệp biển mới.
Thủy sản cũng là một thành tố quan trọng khác của hệ sinh thái kinh tế biển. Nghị quyết số 20-NQ/TW định hướng cơ cấu lại ngành theo hướng hiện đại, bền vững, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị, gắn với từng vùng sinh thái và tích hợp đa giá trị. Trọng tâm phải chuyển từ gia tăng cường độ khai thác sang phát triển nuôi biển, bảo vệ nguồn lợi, truy xuất nguồn gốc, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu.
Du lịch và dịch vụ biển cũng được Nghị quyết xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, hướng tới xây dựng thương hiệu có sức cạnh tranh quốc tế. Song phát triển du lịch biển không thể tiếp tục chủ yếu dựa vào cảnh quan tự nhiên, khách đông theo mùa và khai thác dải bờ biển. Giá trị phải được tạo ra từ hệ sinh thái sản phẩm gồm nghỉ dưỡng, du lịch tàu biển, thể thao biển, khám phá đảo, văn hóa làng chài, ẩm thực, chữa bệnh, sự kiện và công nghiệp văn hóa; bảo đảm cộng đồng địa phương được tham gia, tạo sinh kế và được hưởng lợi từ giá trị văn hóa do chính họ gìn giữ.
Tự chủ công nghiệp để vươn ra biển lớn
Năng lượng tái tạo và các lĩnh vực biển mới đang mở ra dư địa phát triển lớn cho Việt Nam. Theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, tiềm năng kỹ thuật điện gió ngoài khơi của Việt Nam khoảng 600.000 MW. Tổng công suất điện gió ngoài khơi phục vụ nhu cầu trong nước đạt từ 6.000-17.032 MW, dự kiến vận hành trong giai đoạn 2030-2035 và đạt khoảng 113.503 đến 139.097 MW vào năm 2050.
Nghị quyết số 20-NQ/TW đặt mục tiêu phát triển từ 6-10 GW điện gió ngoài khơi vào năm 2030; thúc đẩy điện mặt trời trên biển, điện sóng, hydrogen, amoniac xanh, khử mặn nước biển, công nghệ sinh học, y dược biển cùng các ngành kinh tế đại dương mới... Cơ hội rất lớn nhưng giá trị sẽ không tự động ở lại trong nền kinh tế Việt Nam. Điện gió ngoài khơi phải được phát triển thành chuỗi công nghiệp gồm khảo sát, thiết kế, cơ khí chế tạo, kết cấu ngoài khơi, đóng tàu chuyên dụng, cảng hậu cần, xây dựng, truyền tải, vận hành và bảo dưỡng.
Mỗi dự án quy mô lớn kéo theo khảo sát biển, thiết kế, cơ khí chế tạo, kết cấu ngoài khơi, đóng tàu chuyên dụng, xây dựng cảng hậu cần, vận hành và bảo dưỡng. Nếu phần lớn thiết bị, công nghệ cùng dịch vụ đều nhập khẩu thì nguồn điện có thể tăng nhưng giá trị giữ lại trong nền kinh tế sẽ hạn chế. Ngược lại, khi doanh nghiệp trong nước được tham gia từ đầu và việc thu hút đầu tư gắn với chuyển giao công nghệ, điện gió ngoài khơi có thể trở thành động lực nâng cấp nhiều ngành công nghiệp.
Hoạt động đo đạc, điều tra, khảo sát phục vụ phát triển các dự án điện gió ngoài khơi.
Cùng đó, Việt Nam phải xây dựng năng lực công nghiệp hàng hải đủ mạnh, đây là mắt xích quyết định khả năng giữ lại giá trị trong nước. Trước đó, chủ trì buổi làm việc với các cơ quan về phát triển công nghiệp hàng hải quốc gia vào ngày 14/7/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, phải đặt công nghiệp hàng hải quốc gia đúng vị trí trong chiến lược xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Đây là năng lực công nghiệp nền tảng, phục vụ phát triển kinh tế biển, tổ chức hệ thống giao thông thủy, bảo đảm quốc phòng an ninh và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược.
Đất nước phải duy trì được những năng lực cốt lõi về thiết kế, đóng mới, sửa chữa, hoán cải và bảo đảm kỹ thuật phương tiện thiết yếu; không để bị động khi chuỗi cung ứng gián đoạn, thị trường biến động hoặc xuất hiện tình huống khẩn cấp.
Vươn ra đại dương phải bắt đầu từ năng lực nội sinh, đó là năng lực của doanh nghiệp Việt Nam trong thiết kế, chế tạo, vận hành và tổ chức chuỗi cung ứng; đội ngũ nhà khoa học, kỹ sư, chuyên gia quản trị và lực lượng lao động có kỹ năng; hệ thống dữ liệu biển được chuẩn hóa, cập nhật và chia sẻ để phục vụ quy hoạch, đầu tư, sản xuất, dự báo thiên tai và bảo vệ chủ quyền.
Nghị quyết số 20-NQ/TW đã xác lập tầm nhìn lớn, tuy nhiên tầm nhìn chỉ trở thành sức mạnh khi được chuyển hóa thành thể chế, quy hoạch, chương trình, dự án, doanh nghiệp và công nghệ cụ thể. Thước đo phải là giá trị gia tăng giữ lại trong nền kinh tế, tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng, mức độ làm chủ công nghệ, chất lượng môi trường và đời sống của người dân.
Từ hải trình tìm đường cứu nước của Bác Hồ đến khát vọng ngày hôm nay phải xây dựng quốc gia biển mạnh là hành trình lịch sử dài. Giờ đây, trách nhiệm của cả dân tộc là biến biển thành không gian kiến tạo tương lai, đưa khát vọng vươn ra đại dương trở thành năng lực, sức mạnh và vị thế mới của Việt Nam.