Công nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu hiện đại hóa mạnh mẽ để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026 – 2030. Cụ thể, Kết luận Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt ra mục tiêu tăng trưởng “hai con số” cho giai đoạn 2026 – 2030. Các chỉ tiêu, mục tiêu không dừng ở yêu cầu về tốc độ mà chuyển hẳn sang bài toán về nền tảng, khi toàn bộ hệ thống sản xuất phải vận hành ở một cấp độ cao hơn, được lượng hóa cụ thể: Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11 – 12%; tỉ lệ nội địa hoá một số ngành công nghiệp chủ lực đến năm 2030 đạt 40 – 45%; Chỉ số năng lực cạnh tranh công nghiệp (CIP) đến năm 2030 thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN; tỉ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đến năm 2030 đạt 28%; giá trị tăng thêm của ngành chế biến, chế tạo bình quân đầu người đến năm 2030 đạt 2.400 USD.
Công nghiệp Việt Nam đang đứng trước những mục tiêu lớn. Ảnh: Cấn Dũng
Trong bối cảnh đó, việc ban hành Nghị quyết 109/NQ-CP cập nhật, bổ sung Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số" là hết sức quan trọng. Nghị quyết như một trục triển khai cụ thể, khi chuyển hóa các mục tiêu vĩ mô thành chương trình hành động, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, nâng cấp cấu trúc công nghiệp và tái định vị vai trò của doanh nghiệp cùng công nghệ trong tiến trình phát triển dài hạn.
Thể chế mở đường
Một nền công nghiệp khó có thể bứt phá khi môi trường đầu tư còn chồng chéo, thủ tục kéo dài, chi phí tuân thủ cao và rủi ro pháp lý lớn. Nghị quyết 109 nêu rõ: “xây dựng và hoàn thiện thể chế, pháp luật phù hợp để xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" gắn với xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật trong các ngành, lĩnh vực…”.
Ý nghĩa của thay đổi này đặc biệt rõ với công nghiệp – lĩnh vực cần vốn lớn, chu kỳ đầu tư dài và phụ thuộc sâu vào tính ổn định chính sách. Khi khung pháp lý rõ ràng, doanh nghiệp mới đủ niềm tin để đầu tư dài hạn vào các ngành nền tảng như cơ khí chế tạo, vật liệu mới, hóa chất, năng lượng – những lĩnh vực từng bị né tránh do rủi ro cao và thời gian hoàn vốn kéo dài.
Ở góc độ khác, hoàn thiện thể chế còn giúp giải phóng sức sản xuất nội tại, tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tiếp cận nguồn lực, công nghệ và thị trường theo hướng bình đẳng hơn. Khi các điểm nghẽn được tháo gỡ, công nghiệp chuyển sang vai trò động lực tăng trưởng thực chất, thay vì phụ thuộc quá nhiều vào khu vực FDI.
Hiện đại hóa công nghiệp là yêu cầu cấp thiết. Ảnh minh họa: Du Ca
Nghị quyết đồng thời đặt mục tiêu đưa môi trường đầu tư Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN, hướng tới nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028. Nếu đạt được, đây sẽ trở thành lực hút đáng kể đối với dòng vốn chất lượng cao, nhất là các dự án công nghiệp công nghệ cao có khả năng lan tỏa và nâng cấp chuỗi cung ứng trong nước.
Làm chủ chuỗi giá trị
Nghị quyết 109 đặt ra yêu cầu tái cấu trúc nền công nghiệp theo hướng nâng cao năng lực tự chủ, đồng thời tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, qua đó từng bước dịch chuyển khỏi mô hình gia công, lắp ráp vốn kéo dài nhiều năm và bộc lộ không ít giới hạn trong bối cảnh cạnh tranh mới.
Trong một thời gian dài, công nghiệp Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm, nhưng cấu trúc giá trị gia tăng vẫn nghiêng mạnh về các khâu thấp, phụ thuộc đáng kể vào nguyên vật liệu nhập khẩu, thiết bị và công nghệ từ bên ngoài; thực trạng này khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương khi chuỗi cung ứng toàn cầu biến động, đặc biệt trong các tình huống đứt gãy logistics, xung đột địa chính trị hoặc biến động giá nguyên liệu đầu vào
Nhận diện rõ vấn đề, Nghị quyết xác định hướng đi mang tính chiến lược: “Nâng cao năng lực sản xuất các ngành công nghiệp chiến lược, tiến tới tự chủ, tự cường về nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất, nguồn nhân lực và khoa học, công nghệ gắn với tăng cường vị thế, vai trò của Việt Nam trong chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu”.
Công nghiệp chế biến, chế tạo ngày càng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Bên cạnh đó, các ngành được ưu tiên phát triển không dừng ở những lĩnh vực truyền thống, mà bao gồm cả các trụ cột có tính chất “xương sống” như năng lượng, cơ khí chế tạo, luyện kim, vật liệu mới, công nghiệp hỗ trợ, gắn với yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất quốc tế; song song với đó, việc từng bước làm chủ công nghệ trong các lĩnh vực mới nổi như bán dẫn, robot, trí tuệ nhân tạo, vật liệu tiên tiến được đặt ra như một hướng đi tất yếu nhằm tạo bước nhảy vọt về chất trong cơ cấu công nghiệp.
Danh mục ưu tiên này phản ánh một chiến lược phát triển dài hạn, hướng tới xây dựng nền tảng sản xuất đủ mạnh để nâng đỡ toàn bộ nền kinh tế, từ sản xuất công nghiệp, dịch vụ đến nông nghiệp và logistics. Khi các ngành nền tảng được củng cố, chi phí sản xuất có điều kiện giảm xuống, năng lực cạnh tranh được cải thiện, đồng thời mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu từng bước thu hẹp, qua đó nâng cao tính tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.
Một điểm nhấn đáng chú ý khác nằm ở định hướng phát triển các cụm liên kết ngành và tổ hợp công nghiệp quy mô lớn, với mục tiêu hình thành các không gian sản xuất có tính tích hợp cao, nơi hoạt động sản xuất, dịch vụ hỗ trợ, nghiên cứu – phát triển và logistics được kết nối chặt chẽ; mô hình này giúp tối ưu hóa chuỗi cung ứng, giảm chi phí trung gian, đồng thời tạo điều kiện lan tỏa công nghệ và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Việc tái định vị công nghiệp vì thế đòi hỏi thay đổi tư duy phát triển theo hướng coi trọng chất lượng tăng trưởng, hiệu quả sử dụng nguồn lực và năng lực tự chủ dài hạn, thay cho cách tiếp cận thiên về mở rộng quy mô trong giai đoạn trước; chỉ khi kiểm soát được các khâu then chốt trong chuỗi giá trị, từ nguyên liệu, sản xuất đến công nghệ và thị trường, nền công nghiệp quốc gia mới có thể đứng vững trước biến động và góp phần quan trọng trong đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Doanh nghiệp và công nghệ dẫn dắt
Nghị quyết 109 xác định rõ doanh nghiệp và công nghệ giữ vai trò trung tâm trong tiến trình xây dựng và hiện đại hóa nền công nghiệp quốc gia, trong đó khu vực kinh tế tư nhân được nhấn mạnh như một động lực quan trọng của nền kinh tế, đồng thời khu vực doanh nghiệp nhà nước tiếp tục giữ vị trí dẫn dắt trong các lĩnh vực then chốt, có ý nghĩa nền tảng đối với ổn định và phát triển dài hạn.
Cách tiếp cận này phản ánh sự điều chỉnh đáng chú ý trong tư duy phát triển, chuyển trọng tâm từ mô hình tăng trưởng dựa vào vốn và lao động sang mô hình dựa trên năng lực nội sinh của doanh nghiệp, gắn với đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ; trong bối cảnh đó, doanh nghiệp không còn giữ vai trò thụ động trong chuỗi sản xuất, mà trở thành chủ thể quyết định vị trí của nền công nghiệp trong cấu trúc giá trị toàn cầu.
Ở khía cạnh khác, tiếp tục đổi mới khu vực doanh nghiệp nhà nước theo hướng nâng cao hiệu quả và vai trò dẫn dắt, tập trung vào các lĩnh vực trọng yếu như năng lượng, hạ tầng chiến lược, công nghiệp nền tảng và các ngành có tính chất bảo đảm an ninh kinh tế; đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực lớn, chu kỳ đầu tư dài và tầm nhìn chiến lược, vượt quá khả năng tham gia của phần lớn doanh nghiệp tư nhân. Khi được tổ chức và vận hành theo chuẩn mực quản trị hiện đại, khu vực này có thể tạo lực kéo lan tỏa, dẫn dắt các doanh nghiệp khác tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và nâng cao năng lực cạnh tranh chung của nền công nghiệp.
Nghị quyết nhấn mạnh việc lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu cho tăng trưởng, đồng thời đặt ra yêu cầu phát triển và làm chủ các công nghệ chiến lược, công nghệ lõi, từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị công nghệ cao.
Điều này kéo theo yêu cầu phải điều chỉnh mạnh cách thức đầu tư cho khoa học, công nghệ, chuyển từ phân bổ dàn trải sang tập trung theo trọng điểm, gắn chặt với kết quả đầu ra và khả năng ứng dụng thực tiễn; đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, trực tiếp đầu tư, tiếp nhận, làm chủ và phát triển công nghệ, thay vì phụ thuộc vào chuyển giao đơn thuần. Khi công nghệ trở thành trục phát triển, công nghiệp gắn chặt với tri thức, dữ liệu và năng lực sáng tạo, qua đó tạo nền tảng cho nâng cao giá trị gia tăng và vị thế cạnh tranh.
5 chỉ tiêu về công nghiệp giai đoạn 2026 - 2030: IIP tăng 11 – 12%; tỉ lệ nội địa hóa 40–45%; CIP thuộc Top 3 ASEAN; tỉ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đến năm 2030 đạt 28%; giá trị tăng thêm của ngành chế biến, chế tạo bình quân đầu người đến năm 2030 là 2.400 USD.




