Gỡ 'nút thắt' cho ngành sắn, hướng tới mục tiêu xuất khẩu 2,5 tỷ USD

Trước áp lực truy xuất nguồn gốc, chống mất rừng, ngành sắn Việt Nam buộc tái cấu trúc chuỗi cung, hướng mục tiêu xuất khẩu 2,3 - 2,5 tỷ USD.

Sáng 28/1, Hội Khoa học Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam phối hợp với Tổ chức Forest Trends tại Việt Nam tổ chức cuộc họp “Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và thách thức”. 

Năng lực chế biến lớnnhưng phụ thuộc mạnh vào nguyên liệu

Những năm gần đây, trong khi xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản chủ lực gặp khó khăn, kim ngạch xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn vẫn duy trì đà tăng trưởng tương đối ổn định. Năm 2025, tổng giá trị tiêu thụ nội địa và xuất khẩu của ngành sắn ước đạt khoảng 1,3 - 1,5 tỷ USD, đưa Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu sắn lớn thứ ba thế giới và là quốc gia tiêu thụ sắn lớn thứ hai toàn cầu.

Hội Khoa học Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam phối hợp với Tổ chức Forest Trends tại Việt Nam tổ chức cuộc họp “Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và thách thức”. Ảnh: Bảo Thắng

Hội Khoa học Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam phối hợp với Tổ chức Forest Trends tại Việt Nam tổ chức cuộc họp “Chuỗi cung ngành sắn Việt Nam: Thực trạng và thách thức”. Ảnh: Bảo Thắng

Phát biểu tại sự kiện, ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam cho biết, ngành sắn đang đóng vai trò quan trọng trong ổn định thương mại nông sản, tạo việc làm và thu nhập cho người dân nông thôn. Không chỉ dừng ở xuất khẩu tinh bột, ngành sắn đang mở rộng ứng dụng sang nhiều lĩnh vực như thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, công nghiệp và năng lượng sinh học theo hướng ngày càng thân thiện với môi trường.

Việt Nam hiện vừa là quốc gia sản xuất sắn nguyên liệu lớn, vừa là trung tâm chế biến và xuất khẩu sắn quy mô lớn của khu vực. Tổng nguồn cung sắn nguyên liệu hàng năm đạt trên 18 triệu tấn sắn tươi, trong đó khoảng 58% là nguồn cung trong nước, tương đương hơn 10 triệu tấn, đến từ khoảng 500.000 ha diện tích trồng sắn. Phần còn lại, khoảng 42%, là nguyên liệu nhập khẩu, chủ yếu từ Lào và Campuchia.

Toàn ngành hiện có 142 nhà máy chế biến sắn, với công suất chế biến thực tế khoảng 11,5 triệu tấn sắn tươi mỗi năm. Đây là một trong số ít ngành hàng nông sản có năng lực chế biến lớn đến mức phải bổ sung nguyên liệu nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu sản xuất.

Ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam. Ảnh: Bảo Thắng

Ông Nghiêm Minh Tiến, Chủ tịch Hiệp hội Sắn Việt Nam. Ảnh: Bảo Thắng

Bên cạnh sản phẩm tinh bột, ngành sắn còn nhiều dư địa để phát triển các sản phẩm sau tinh bột và tận dụng phụ phẩm, qua đó gia tăng giá trị gia tăng cho toàn chuỗi. Tuy nhiên, diện tích trồng sắn trong nước những năm gần đây có xu hướng giảm nhẹ do cạnh tranh với các cây trồng khác và quá trình chuyển dịch lao động khỏi khu vực nông nghiệp.

Đáng chú ý, tại một số địa phương có diện tích rừng, diện tích trồng sắn lại tiếp tục mở rộng, làm dấy lên những lo ngại về mối liên hệ giữa phát triển sắn và suy thoái tài nguyên rừng.

Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay đối với ngành sắn là yêu cầu ngày càng khắt khe từ thị trường quốc tế về tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc và sản phẩm không gây mất rừng. Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), dù hiện mới áp dụng với các ngành cà phê, cao su và gỗ, song được dự báo sẽ sớm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến ngành sắn.

Bên cạnh EU, nhiều thị trường lớn khác như Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc cũng đang xây dựng các quy định mới nhằm ngăn chặn các sản phẩm nông, lâm nghiệp có nguồn gốc không rõ ràng hoặc gây mất rừng thâm nhập thị trường.

Ngay cả Trung Quốc, thị trường nhập khẩu sắn lớn nhất của Việt Nam, cũng đang siết chặt các yêu cầu về chất lượng và truy xuất nguồn gốc. Điều này đặt ngành sắn Việt Nam trước áp lực phải thay đổi nhanh chóng để duy trì khả năng tiếp cận thị trường.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Vinh Quang, cán bộ nghiên cứu của Tổ chức Forest Trends, đặc thù của ngành sắn là nguồn nguyên liệu chủ yếu đến từ các hộ nông dân nhỏ lẻ, với hơn nửa triệu hộ tham gia sản xuất. Sản phẩm thường được thu mua qua nhiều khâu trung gian, khiến việc minh bạch thông tin về đất đai, vùng trồng và giao dịch thương mại gặp nhiều khó khăn.

“Để đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc, ngành sắn cần tái cấu trúc toàn diện chuỗi cung hiện nay, từ kiểm soát sử dụng đất, minh bạch hóa chuỗi cung, đến chuyển các hoạt động phi chính thức sang chính thức”, ông Quang nhấn mạnh.

Tái cấu trúc chuỗi cung, gỡ điểm nghẽn truy xuất

Một nội dung được thảo luận nhiều tại cuộc họp là việc rà soát, phân định rõ nguồn gốc đất trồng sắn. Các chuyên gia cho rằng, không thể đánh đồng toàn bộ diện tích sắn trồng trên đất có yếu tố lâm nghiệp là phá rừng.

Thực tế cho thấy, nhiều diện tích sắn đã được canh tác ổn định từ nhiều năm trước, thậm chí áp dụng các mô hình nông - lâm sinh góp phần cải thiện sinh trưởng và chất lượng rừng. Do đó, cần có đánh giá khoa học, khách quan để phân loại rõ các nhóm đất.

Đối với diện tích sắn trồng đúng quy hoạch trên đất nông nghiệp, cần tiếp tục quản lý và khuyến khích sản xuất hiệu quả. Với những diện tích canh tác ổn định lâu dài trên đất lâm nghiệp, chính quyền địa phương cần xem xét chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang đất nông nghiệp để bảo đảm tính pháp lý. Ngược lại, các diện tích trồng sắn có nguồn gốc từ phá rừng, đặc biệt sau năm 2020, cần kiên quyết phục hồi rừng, nhất là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng.

Các chuyên gia thống nhất rằng, việc rà soát đất đai phải gắn với xây dựng hệ thống bản đồ số, ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS để số hóa dữ liệu vùng trồng đến từng thửa đất, từng chủ thể sản xuất. Đây là nền tảng để xác định mã số vùng trồng và xây dựng cơ sở dữ liệu đồng bộ phục vụ truy xuất nguồn gốc.

TS. Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Ảnh: Bảo Thắng

TS. Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam. Ảnh: Bảo Thắng

Phát biểu kết luận cuộc họp, TS. Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam nhấn mạnh, ngành sắn đã phát triển liên tục trong nhiều năm, đóng góp quan trọng cho tăng trưởng nông nghiệp và bảo đảm an sinh xã hội tại các vùng khó khăn.

Theo định hướng của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, dù diện tích trồng sắn có thể không tăng, song sản lượng, giá trị và kim ngạch xuất khẩu được kỳ vọng tăng mạnh, kim ngạch xuát khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn đạt từ 1,8 - 2 tỷ USD vào năm 2030 và hướng tới mục tiêu 2,3 - 2,5 tỷ USD vào năm 2050.

Tuy nhiên, truy xuất nguồn gốc hiện được xác định là “điểm nghẽn” lớn nhất. Theo lộ trình, đến cuối năm 2026, tất cả các ngành hàng nông sản phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu truy xuất từ vùng sản xuất đến sản phẩm cuối cùng.

Để tháo gỡ, ông Hà Công Tuấn đề xuất cần sớm hoàn thiện thể chế, ban hành quy định cụ thể về quy trình truy xuất nguồn gốc phù hợp với đặc thù ngành sắn. Đồng thời, tổ chức lại chuỗi cung theo hướng minh bạch, tăng liên kết giữa doanh nghiệp chế biến, hợp tác xã và người trồng sắn. Khâu trung gian thu mua cần được quản lý chặt chẽ, minh bạch thay vì loại bỏ.

Chỉ khi giải quyết đồng bộ các vấn đề về đất đai, vùng trồng và truy xuất nguồn gốc, ngành sắn Việt Nam mới có thể vượt qua thách thức, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Theo TS. Hà Công Tuấn, Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, trong bối cảnh “luật chơi” toàn cầu đã thay đổi, ngành sắn không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chủ động thích ứng, đẩy nhanh ứng dụng công nghệ số, hướng tới sản xuất xanh và phát triển bền vững.

Nguyễn Hạnh

Có thể bạn quan tâm

Bình luận