Để tài nguyên di sản thành "sức mạnh mềm" và giá trị thương mại thực chứng, yêu cầu cấp thiết đặt ra là phải hoàn thiện hành lang pháp lý, tháo gỡ các rào cản hành chính và chuyển đổi mạnh mẽ tư duy từ quản lý sang kiến tạo.
Cần bước chuyển tư duy
Nhìn lại tiến trình phát triển, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để phát triển văn hóa. Từ Nghị quyết số 23-NQ/TW (năm 2008) về phát triển văn học, nghệ thuật, đến Nghị quyết số 33-NQ/TW và mới đây nhất là Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị, quyết tâm chính trị luôn được khẳng định xuyên suốt. Thế nhưng, thực tiễn triển khai thường gặp độ trễ, theo NSND Vương Duy Biên, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Hiệp hội phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam, nguyên nhân cốt lõi nằm ở "khâu thực hiện". Sự chênh lệch giữa nhận thức ở tầm vĩ mô và sự lúng túng trong triển khai cụ thể tại các bộ, ngành, địa phương đã khiến nhiều mục tiêu chưa đạt như kỳ vọng.
Luật Phát triển công nghiệp văn hóa được kỳ vọng giải phóng nguồn lực, hướng tới mục tiêu đóng góp 7% GDP của đất nước.
Giải quyết bài toán này, dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang xây dựng được các chuyên gia đánh giá mang theo những kỳ vọng lớn. TS Nguyễn Thị Thúy Phương, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Báo chí, Học Viện báo chí và Tuyên truyền cho rằng, việc xây dựng dự thảo Luật ở thời điểm hiện tại như "nắng hạn gặp cơn mưa". Dù lẽ ra văn bản này nên có từ năm 2016, thời điểm Chiến lược phát triển công nghiệp văn hóa đầu tiên được ban hành, nhưng sự xuất hiện của nó lúc này là vô cùng đúng thời điểm, khi đất nước đang rà soát mọi nguồn lực để tìm kiếm các cực tăng trưởng mới.
Theo TS Nguyễn Thị Thúy Phương, điểm ưu việt và mang tính đột phá nhất của dự thảo Luật nằm ở tư duy kiến tạo. Việc lựa chọn tên gọi "Luật Phát triển công nghiệp văn hóa" thay vì "Luật Công nghiệp văn hóa" mang thông điệp rõ ràng: luật này không sinh ra để tạo thêm giấy phép con hay chồng chéo với các luật chuyên ngành hiện hữu (như Luật Điện ảnh, Luật Sở hữu trí tuệ...). Thay vào đó, Luật hướng tới việc tạo lập một cơ chế bảo hộ, hỗ trợ và giải phóng năng lực sáng tạo của toàn xã hội, lấy tài nguyên sở hữu trí tuệ làm hạt nhân.
Giải quyết bài toán tài chính và thương mại hóa tài sản trí tuệ
Khác với các ngành công nghiệp truyền thống dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên hay nhân công giá rẻ, công nghiệp văn hóa là ngành kinh tế "thâm dụng trí tuệ". Do đó, việc định giá, bảo hộ và thương mại hóa tài sản trí tuệ phải được đặt ở vị trí trung tâm.
TS Nguyễn Thị Thúy Phương đánh giá cao Ban soạn thảo khi đưa vào cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox), nổi bật là quy định cho phép bảo lãnh tín dụng bằng tài sản trí tuệ. Cơ chế này sẽ biến các ý tưởng, kịch bản, bản quyền tác phẩm... thành tài sản thế chấp hợp pháp để vay vốn ngân hàng, qua đó giải quyết triệt để "cơn khát vốn" của các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo (startup). Đồng thời, việc Luật định danh được khái niệm "Tài sản trí tuệ gốc" (Tài sản trí tuệ cộng đồng) sẽ giúp giải quyết sự lúng túng bấy lâu nay trong việc xác định chủ thể sở hữu của các di sản văn hóa dân tộc.
Bên cạnh đó, để kích cầu nguồn lực từ khu vực tư nhân, NSND Vương Duy Biên đề xuất cần có hệ thống chính sách tài chính linh hoạt, đặc biệt là công cụ thuế. Nếu một doanh nghiệp phải đóng thuế 100 tỷ đồng mỗi năm, Nhà nước hoàn toàn có thể khuyến khích họ dùng chính số tiền đó để đầu tư sản xuất một bộ phim bom tấn, một chương trình nghệ thuật lớn và cho phép miễn trừ thuế tương ứng. Cách làm này mang lại lợi ích kép.
"Doanh nghiệp quảng bá được thương hiệu một cách công khai, còn quốc gia có thêm nguồn lực lớn để phát triển văn hóa mà không làm tăng gánh nặng chi ngân sách" - NSND Vương Duy Biên phân tích.
NSND Vương Duy Biên, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Hiệp hội phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam.
Đồng thời, tư duy đầu tư công cho văn hóa cũng cần được "cởi trói" khỏi các thủ tục hành chính. Theo NSND Vương Duy Biên, Nhà nước cần chuyển từ việc đầu tư dàn trải cho các "trại sáng tác" sang phương thức đặt hàng các dự án tầm cỡ. Thậm chí, không ngần ngại chi ngân sách lớn thuê đạo diễn, ê-kíp quốc tế hợp tác sản xuất để tạo ra những tác phẩm đạt tiêu chuẩn vươn tới giải Oscar, đồng thời dành một tỷ lệ ngân sách xứng đáng cho công tác truyền thông, quảng bá quốc tế.
Để các chính sách trên thực sự đi vào đời sống, việc hình thành các thiết chế thị trường chuyên nghiệp là điều kiện bắt buộc. Từ thực tiễn quốc tế, NSND Vương Duy Biên chỉ ra rằng, để thị trường mỹ thuật hay nghệ thuật biểu diễn phát triển, chúng ta cần hoàn thiện hệ thống bảo tàng tư nhân, các nhà đấu giá chuyên nghiệp, tạo sân chơi minh bạch cho cả tác phẩm. Các nghệ sĩ độc lập, các nhóm nhạc Việt (V-pop) bước ra từ các chương trình lớn thực sự cần một bệ phóng chuyên nghiệp để xuất khẩu văn hóa, mang về nguồn thu ngoại tệ cho đất nước.
TS Nguyễn Thị Thúy Phương cho rằng Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đánh dấu bước chuyển tư duy đột phá từ quản lý sang kiến tạo.
Gắn sáng tạo với bản sắc để định vị quốc gia
Bên cạnh bài toán kinh tế, mục tiêu tối thượng của công nghiệp văn hóa vẫn là khẳng định bản sắc và quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Các tập đoàn kinh tế lớn đầu tư vào những chương trình biểu diễn thực cảnh quy mô như Tinh hoa Bắc Bộ hay Ký ức Hội An không chỉ thu lợi từ tiền bán vé, mà họ đang tạo ra một hệ sinh thái kinh tế toàn diện bao gồm lưu trú, ẩm thực, mua sắm và giao thông. Phim ảnh Hàn Quốc khi xuất khẩu đã kéo theo sự bùng nổ của ngành mỹ phẩm, thời trang và ẩm thực. Đây chính là sức mạnh của chuỗi giá trị trong công nghiệp văn hóa.
Tuy nhiên, đúc kết triết lý phát triển bền vững, NSND Vương Duy Biên nhấn mạnh công thức 6 chữ: Sáng tạo - Bản sắc - Lan tỏa. Sự khác biệt từ bản sắc văn hóa của 54 dân tộc chính là lợi thế cạnh tranh khác biệt. Nếu đánh mất bản sắc, sản phẩm văn hóa sẽ trở nên mờ nhạt trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, khai thác di sản đòi hỏi sự tinh tế. Không thể đem một loại hình nghệ thuật dân gian nguyên bản đặt vào không gian resort 5 sao hào nhoáng để phục vụ mục đích thương mại thuần túy. Người làm công nghiệp văn hóa phải có trí tuệ để cân bằng giữa việc nâng tầm sản phẩm phục vụ thị trường và việc gìn giữ vẻ đẹp thuần khiết của di sản.
Đưa công nghiệp văn hóa trở thành mũi nhọn kinh tế sẽ là đòn bẩy vững chắc để văn hóa Việt Nam khẳng định vị thế và sức mạnh trên bản đồ kinh tế toàn cầu.