Nguồn cung thu hẹp, EUDR trở thành phép thử mới
Theo số liệu của Cục Hải quan (Bộ Tài chính), tháng 6/2026, Việt Nam xuất khẩu hơn 126.000 tấn cà phê, thu về trên 580 triệu USD. Lũy kế 6 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 4,8 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế của cà phê là một trong những ngành hàng nông sản xuất khẩu chủ lực. Đáng chú ý, xuất khẩu cà phê sang nhiều thị trường như Italy, Nhật Bản và Nga tiếp tục tăng trưởng tích cực. Riêng khu vực Đông Bắc Á ghi nhận tín hiệu khả quan nhờ nhu cầu tiêu dùng gia tăng, ngành chế biến phát triển và hệ thống phân phối ngày càng mở rộng, tạo thêm dư địa cho cà phê Việt Nam.
6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 4,8 tỷ USD, tiếp tục khẳng định vị thế của cà phê là một trong những ngành hàng nông sản xuất khẩu chủ lực.
Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Lê Đức Huy, Phó Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa), Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2-9 Đắk Lắk (Simexco Daklak) đánh giá, bức tranh xuất khẩu cà phê 6 tháng đầu năm nhìn chung khá tích cực khi sản lượng xuất khẩu tăng. Tuy nhiên, giá cà phê thế giới đã giảm so với mức đỉnh của năm trước, khiến tốc độ tăng trưởng kim ngạch không tương xứng với sản lượng. Dù vậy, mặt bằng giá hiện nay vẫn ở mức cao hơn đáng kể so với trung bình nhiều năm.
Theo ông Huy, cán cân cung - cầu cà phê thế giới vẫn đang nghiêng theo hướng hỗ trợ giá, tạo nền tảng để thị trường duy trì ở mức cao trong thời gian tới. Đối với nửa cuối năm, sản lượng xuất khẩu được dự báo sẽ giảm do lượng hàng còn lại trong dân không nhiều, trong khi thị trường phải chờ nguồn cung từ vụ thu hoạch mới. Triển vọng niên vụ tới cũng chưa thực sự khả quan khi thời tiết bất lợi trong các tháng 4 và 5 có thể ảnh hưởng đến năng suất, khiến tổng sản lượng thấp hơn năm trước.
Một trong những vấn đề doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) sẽ chính thức được áp dụng từ cuối năm nay và gần như không còn khả năng tiếp tục gia hạn. Theo ông Lê Đức Huy, các quy định của EUDR hiện đã được đơn giản hóa hơn so với dự thảo ban đầu, song trọng tâm quản lý sẽ chuyển sang khâu hậu kiểm. "Các lô hàng có thể bị giữ lại để kiểm tra và truy xuất nguồn gốc đến từng cây trồng. Vì vậy, nhà nhập khẩu sẽ yêu cầu doanh nghiệp xuất khẩu thực hiện rất chặt chẽ quy trình truy xuất nguồn gốc", ông Huy cho biết.
Do đó, doanh nghiệp và người trồng cà phê cần tiếp tục hoàn thiện chuỗi cung ứng, đẩy mạnh số hóa dữ liệu, mã hóa vùng trồng và xây dựng đầy đủ hồ sơ truy xuất để sẵn sàng cung cấp chứng từ khi cơ quan chức năng EU kiểm tra.
Ông Huy cũng nhấn mạnh, việc Việt Nam được EU xếp vào nhóm quốc gia có rủi ro thấp là lợi thế rất lớn cần được duy trì. Nếu bị chuyển sang nhóm rủi ro cao hơn, hoạt động kiểm tra sẽ nghiêm ngặt hơn, kéo theo chi phí và thời gian thông quan gia tăng. Trong bối cảnh giá cà phê đang ở mức cao, nguy cơ người dân tự phát mở rộng diện tích trồng, thậm chí lấn vào đất rừng không đáp ứng quy định EUDR cũng là vấn đề cần được kiểm soát. Do đó, chính quyền địa phương cần đẩy nhanh việc quản lý, mã hóa vùng trồng; người dân khi mở rộng diện tích mới cần đăng ký để được kiểm tra tính phù hợp trước khi đưa vào sản xuất.
Chuyển từ tăng sản lượng sang nâng giá trị
Liên quan đến lo ngại về khả năng chồng lấn dữ liệu vùng trồng giữa các doanh nghiệp khi thực hiện truy xuất nguồn gốc, ông Lê Đức Huy cho rằng đây không phải vấn đề lớn. Theo ông, các doanh nghiệp hiện đều đã đầu tư mạnh vào số hóa dữ liệu và tôn trọng dữ liệu của nhau. Trường hợp một hộ nông dân bán cà phê cho nhiều doanh nghiệp nhưng cùng sử dụng một mã số vùng trồng là hoàn toàn bình thường. Điều quan trọng là tổng khối lượng giao dịch phải phù hợp với năng lực sản xuất thực tế của vùng trồng. Nếu một vùng chỉ sản xuất khoảng 3 tấn cà phê thì tổng lượng bán ra, dù cho một hay nhiều doanh nghiệp, cũng không được vượt quá sản lượng đó.
Đối với việc EU mở rộng phạm vi áp dụng EUDR đối với cà phê chế biến, ông cho biết quy định sẽ có thêm một năm chuyển tiếp trước khi thực thi chính thức. Đây là khoảng thời gian để doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống quản lý. "Doanh nghiệp đã theo đuổi chuyển đổi số, chuyển đổi xanh trong nhiều năm. Nếu đáp ứng được yêu cầu đối với cà phê nhân thì cũng sẽ đáp ứng được đối với cà phê chế biến", ông Huy nói.
Ở góc độ thị trường, Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam cho rằng ngành cà phê đang bước vào giai đoạn cạnh tranh ngày càng gay gắt khi nguồn cung toàn cầu tăng mạnh, chủ yếu từ Brazil, trong khi nhu cầu tiêu thụ chỉ tăng nhẹ. Vicofa dự báo sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2025-2026 có thể đạt khoảng 180 triệu bao, tăng gần 8 triệu bao so với niên vụ trước. Khi nguồn cung dồi dào hơn, xu hướng giảm giá nhiều khả năng sẽ tiếp diễn trong những tháng tới.
Brazil tiếp tục mở rộng sản lượng cũng làm gia tăng sức ép cạnh tranh đối với cà phê Robusta - mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Trong bối cảnh đó, Vicofa nhận định mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cà phê năm 2026 sẽ đối mặt nhiều thách thức. Không chỉ giá xuất khẩu giảm, quy luật nhiều năm cho thấy lượng xuất khẩu trong 6 tháng cuối năm thường thấp hơn nửa đầu năm.
Theo hiệp hội, ngành cà phê cần chuyển mạnh từ mục tiêu tăng sản lượng sang nâng cao giá trị gia tăng thông qua phát triển cà phê nhân chất lượng cao, có chứng chỉ xanh, chứng chỉ phát triển bền vững, đồng thời tăng tỷ trọng sản phẩm rang xay, hòa tan và chế biến sâu. Hiện, khoảng 30% diện tích cà phê của Việt Nam đã đạt các chứng chỉ sản xuất bền vững, tạo nền tảng thuận lợi để đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu.
Vicofa cũng kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến thương mại tại các thị trường còn nhiều dư địa như Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Algeria và nhóm thị trường cà phê đặc sản, hữu cơ tại Bắc Âu; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp kết nối với các chuỗi bán lẻ lớn tại châu Á và châu Âu để mở rộng đầu ra cho các sản phẩm cà phê chế biến.
Nguồn cung trong nước dần thu hẹp, cạnh tranh quốc tế gia tăng, trong khi EUDR chuẩn bị có hiệu lực buộc doanh nghiệp cà phê phải nâng chuẩn truy xuất nguồn gốc.