![]() |
| Người dân làm nghề đang bóc vỏ cây niệt |
Lưu giữ hồn cốt dân tộc…
Cả vùng quê này chẳng ai nhớ rõ nghề làm giấy dó ở xã Nghi Phong hình thành tự bao giờ, các cụ cao niên trong làng cũng chỉ biết khi mình lớn lên đã nghe rõ tiếng chày giã niệt, dó rậm rịch suốt ngày. Theo thời gian, do khó khăn cả về nguyên liệu, đầu ra nên số lượng người làm nghề giảm đi rất nhiều.
Theo vợ chồng ông bà Tâm (Nghi phong - Nghi Lộc) kể lại, ông bà cũng nghe tiếng chày, tiếng giã mà lớn lên. Làm nghề từ thủa lên 5 lên 10, bà Tâm hiểu rõ giấy dó không chỉ mang lại kinh tế mà còn là truyền thống - là niềm tự hào của quê hương. Và để lưu giữ nghề truyền thống này thì tìm mua và chế biến cây niệt - nguyên liệu làm nên những tấm giấy mỏng manh chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất.
"Nguyên liệu chính để làm ra được những khuôn giấy mỏng, dai và mịn được lấy từ vỏ của thân cây niệt. Loài cây này chỉ có ở trên rừng thuộc các huyện vùng cao Nghệ An như Quế Phong, Quỳ Châu, Kỳ Sơn, Tương Dương. Vì vậy, công đoạn lên rừng tìm chặt cây niệt đem về cũng rất vất vả và tốn nhiều thời gian, có khi phải đến một tuần mới tìm được nguyên liệu….”, bà Tâm cho biết thêm.
Quy trình sản xuất giấy dó phải qua nhiều công đoạn, mà tất cả đều phải làm bằng chính đôi tay người thợ. Đầu tiên, cây niệt sẽ được tuốt bỏ lá chỉ chừa lại phần thân, cành, cạo đi lớp vỏ lụa bên ngoài, tách lấy phần thịt, vứt phần lõi cứng bên trong. Phần thịt đã chọn sẽ được tước mỏng ra nhồi với nước vôi đặc rồi nấu trong một ngày. Cứ một thùng 50kg nguyên liệu tiêu thụ hết 20kg than. Khi than tàn cũng là lúc niệt chín đúng độ thì vớt ra, cho vào cối giã nhuyễn, đem đãi lấy nước trong, cho vào bể seo tráng lên khuôn vải màn (gọi là seo giấy).
Khâu seo giấy tuy nhẹ nhàng hơn, nhưng phải khéo léo, kiên trì nên người phụ nữ thường đảm nhiệm công việc này. Họ đứng bên tàu seo, hai tay dùng liềm seo múc nước bột giấy rồi gác lên “đòn cách” bằng tre cho nước chảy xuống hết, khi nào chỉ còn bột giấy đọng lại trên khuôn thì mới đưa ra phơi nắng. Giấy dày hay mỏng là phụ thuộc vào "ngữ đỉnh" ở khuôn seo. Khi khuôn seo khô, bóc ra sẽ thành 1 tờ giấy mỏng, màu trắng đục, trong và dai, đó chính là sản phẩm giấy dó. Công đoạn khó nhất chính là khâu đun lửa - phải giữ lửa ở nhiệt độ cao khi luộc vỏ cây niệt trong nước vôi đặc. Theo các cụ cao niên có thâm niên trong nghề, sản phẩm giấy dó có thể để đến trăm năm cũng không bị mục nát nhờ sợi dó có khả năng hút và nhả ẩm tốt.
Chị Bạch Thị Lê, xóm Phong Phú cho biết: “Nghề này làm được quanh năm, chỉ cần trời nắng. Với 20 khuôn, mỗi ngày gia đình tôi đổ được 2 lần, mỗi lần được 20 tờ. Giá bán hiện nay 2.500 đồng/tờ, sau khi trừ chi phí còn lãi khoảng 70 ngàn đồng/ngày. Vất vả lắm, thức đêm dậy hôm, tốn nhiều thời gian, công sức mà thu nhập chẳng được là bao, nhưng gia đình tôi vẫn cố gắng theo nghề, trước là có thêm thu nhập, sau là gìn giữ nghề truyền thống của quê hương…”.
Trăn trở níu nghề...
Theo các hộ dân làm nghề ở đây, trung bình một gia đình có 2 lao động chính thì tối đa một ngày cũng chỉ làm được 80 tờ với điều kiện trời phải nắng gắt, còn trời âm u chỉ làm được 50-60 tờ/ngày. Trừ chi phí, mỗi hộ thu về khoảng 140.000 đồng/ngày. Tuy thu nhập không cao nhưng cũng góp phần để trang trải cuộc sống hàng ngày.
Ông Vương Văn Tâm trăn trở: Năm nay, tôi đã gần 70 tuổi, đã có trên 50 năm gắn bó với nghề, hiện nay giấy công nghiệp ra nhiều, cho nên nghề giấy dó ở Phong Phú đang bị mai một dần. Do vậy, tôi mong nhà nước, các ban ngành có cơ chế khuyến khích, hỗ trợ các kiến thức khoa học kỹ thuật mới, tìm đầu ra cho người dân làng nghề chúng tôi, trước là để người dân làng nghề sống được bằng nghề, sau là để giữ nghề truyền thống của cha ông đã để lại.
Trước đây, giấy dó được nhiều khách hàng trong và ngoài tỉnh đến mua về dán quạt, quấn hương trầm, dán lên mình cá biển. Tuy nhiên, hiện nay nhu cầu tiêu thụ sản phẩm này đã thu hẹp dần. Hiện chỉ có khách hàng ở Cửa Lò, Cửa Hội và Quỳnh Lưu, Diễn Châu đến mua về dán cá, làm hương.
Cách đây 5 năm, hơn trăm hộ gia đình trong làng làm nghề thì nay chỉ còn 20 hộ. Trung bình mỗi ngày làng nghề cung cấp ra thị trường khoảng 1.500 tờ giấy dó. Với giá bán từ 2.500 đồng/tờ. Sau khi trừ chi phí nguyên liệu, trung bình 1 ngày làng nghề thu về khoảng hơn 2 triệu đồng. Tổng mỗi năm làng nghề thu nhập xấp xỉ 700 triệu đồng từ nghề làm giấy dó. Tuy thu nhập không cao so với nghề khác, nhưng đã góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo của làng xuống còn 4% (giảm 12% so với năm 2010).
Theo ông Nguyễn Trọng Hiếu - Phó Chủ tịch UBND xã Nghi Phong: “Năm 2007, giấy dó Phong Phú đã được công nhận làng nghề cấp tỉnh. Tuy nhiên, thị trường giấy gió của Phong Phú rất khó cạnh tranh và đầu ra không ổn định. Địa phương đang hướng liên kết với các công ty, liên minh hợp tác xã, hiệp hội làng nghề Nghệ An để bao tiêu sản phẩm cho người dân làng nghề. Mặt khác, tiếp tục vận động người dân tập trung trau dồi và nâng cao tay nghề để dần đáp ứng nhu cầu thị trường trong thời kỳ hội nhập để vừa tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân, vừa giữ được nghề truyền thống của quê hương, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các làng nghề xứ Nghệ…”.
Dù vậy, ở đây vẫn đang có những con người luôn nỗ lực níu giữ nghề truyền thống của cha ông, cố gắng từng ngày để tìm lại một làng giấy tấp nập, đông vui. Và với hàng trăm tờ giấy được bán ra mỗi ngày, giấy dó đang theo chân thương lái đưa truyền thống địa phương đi xa hơn tới mọi miền đất nước.





