Năm thành công của đối ngoại Việt Nam
Tối ngày 28/1, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung đã trả lời báo chí về những kết quả, thành tựu của hoạt động đối ngoại trong năm 2025.
Theo Bộ trưởng Lê Hoài Trung, năm 2025, môi trường quốc tế biến động, bất ổn, xung đột nổ ra ở nhiều quốc gia, nhiều khu vực. Thậm chí có thể nói năm 2025 là năm biến động nhất trong nhiều năm trở lại đây như văn kiện Đại hội XIV đã nhận định “thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại”.
Soi chiếu vào bối cảnh đó, có thể thấy dấu ấn nổi bật của đối ngoại năm 2025 là ta đã tranh thủ được thời cơ, hóa giải được thách thức, góp phần tạo cục diện đối ngoại mới cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới. Có thể nói đối ngoại trong năm 2025 đã phát huy tinh thần trách nhiệm cao nhất để thực hiện các nhiệm vụ chiến lược như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh “giữ vững, duy trì môi trường hòa bình, ổn định; phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững; nâng cao đời sống của nhân dân, tất cả vì nhân dân”.

Đồng chí Lê Hoài Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Ảnh: Nhật Bắc/VGP
Đi sâu vào những kết quả nổi bật của hoạt động đối ngoại, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cho biết, trước hết đó là thành quả trong việc nâng tầm, nâng cấp quan hệ, mở rộng hợp tác với các đối tác.
Trong năm, các hoạt động đối ngoại diễn ra sôi động, nhất là của Lãnh đạo chủ chốt, tạo khuôn khổ và tầm nhìn định hướng cho quan hệ. “Chúng ta đã nâng cấp quan hệ với 17 đối tác, đưa tổng số đối tác có quan hệ từ Đối tác toàn diện trở lên thành 42 nước”, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thông tin và nhấn mạnh, điểm nhấn là tính thực chất và hiệu quả, thể hiện qua việc ký kết gần 350 thỏa thuận hợp tác, tăng gấp 2,5 lần so với năm 2024.
Cùng với đó, Việt Nam cũng đã củng cố quan hệ, mở rộng hợp tác với các chính đảng, tiếp tục coi trọng và phát triển đối ngoại nhân dân dưới nhiều hình thức.
Thứ hai, trên bình diện đa phương, trong lúc các thể chế đa phương gặp khó khăn, Việt Nam tiếp tục thể hiện trách nhiệm và cam kết của mình.
Việt Nam thể hiện mạnh mẽ sự ủng hộ đối với hợp tác đa phương, đã tham gia và đóng góp có trách nhiệm, góp phần xây dựng các định hướng hoạt động và các quy định, chuẩn mực tại các thể chế đa phương.
Thứ ba, đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng 8% của đất nước, ngoại giao kinh tế phát huy vai trò tiên phong, nắm bắt xu hướng vận động của kinh tế thế giới, các lĩnh vực mới để phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành.
Các hoạt động ngoại giao kinh tế lồng ghép hiệu quả vào đối ngoại cấp cao, đạt số lượng kỷ lục về cam kết thỏa thuận, mở rộng thị trường, thu hút đầu tư, kết nối chiến lược, đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng khu vực, toàn cầu.
Ngoại giao khoa học - công nghệ trở thành một mũi nhọn, tập trung vào đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, góp phần hiện thực hóa 11 lĩnh vực công nghệ chiến lược.
Thứ tư, đối ngoại cũng góp phần phát huy sức mạnh mềm của Việt Nam. Ngoại giao văn hóa triển khai bài bản, tổ chức thành công Đại lễ Vesak, vận động 7 danh hiệu mới, đưa tổng số danh hiệu UNESCO của Việt Nam lên 77.
Công tác thông tin đối ngoại chủ động, không chỉ quảng bá hình ảnh quốc gia mà còn bảo vệ nền tảng tư tưởng, lợi ích đất nước trong môi trường thông tin phức tạp. Công tác bảo hộ công dân được triển khai kịp thời tại các điểm nóng, đưa hàng nghìn công dân về nước.
Công tác về người Việt Nam ở nước ngoài đã thành công trong việc khơi dậy tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc với thành quả rõ nét chính là nguồn kiều hối gửi về nước đạt mức kỷ lục, trở thành nguồn lực quan trọng đóng góp thiết thực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Đối ngoại nhân dân đã phát huy vai trò cầu nối, tạo nền tảng cho các mối quan hệ đối ngoại của đất nước.

Đối ngoại cũng góp phần phát huy sức mạnh mềm của Việt Nam.
Thứ năm, cùng với việc triển khai các nhiệm vụ đối ngoại, công tác xây dựng ngành được thực hiện nghiêm túc. Ngành Ngoại giao đã sắp xếp bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu quả; giảm 42,5% số lượng đầu mối, đồng thời tiếp nhận nhiệm vụ đối ngoại Đảng và một phần chức năng, nhiệm vụ đối ngoại Quốc hội.
Nhiều văn bản pháp lý quan trọng, tạo nền tảng thể chế cho đối ngoại như Luật Điều ước quốc tế sửa đổi, Luật Quốc tịch sửa đổi, Nghị quyết 250 của Quốc hội về các cơ chế, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế.
Cuối cùng, cơ chế phối hợp giữa ba trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân, cùng sự gắn kết chặt chẽ với quốc phòng, công an cùng các ban, bộ, ngành và địa phương ngày càng đồng bộ, giúp xây dựng chính sách nhanh hơn, chủ động hơn.
Hiện thực hóa nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng lần đầu tiên khẳng định chính thức quan điểm chỉ đạo "đối ngoại cùng với quốc phòng - an ninh lần đầu tiên được xác định là lĩnh vực “trọng yếu, thường xuyên", đây vừa là vinh dự, vừa là trách nhiệm lớn đối với toàn ngành đối ngoại, ngoại giao. Điều này cũng khẳng định bước chuyển mới về tư duy chiến lược của Đảng.
Nhìn lại lịch sử cách mạng của đất nước, ngay từ những ngày đầu nước nhà được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập”. Vì vậy, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao cho rằng, khẳng định đối ngoại, hội nhập quốc tế là “trọng yếu, thường xuyên” là sự phản ánh sinh động tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh.
“Trọng yếu, thường xuyên” được hiểu là công việc có tầm quan trọng hàng đầu, liên quan đến sự tồn vong, an nguy, thịnh suy của đất nước, gắn với lịch sử dựng nước và giữ nước, được quan tâm và thực hiện liên tục trong mọi giai đoạn Cách mạng, và nay là góp phần đắc lực vào việc thực hiện thắng lợi 2 nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Để đẩy mạnh triển khai chiến lược đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo, đồng thời thực hiện tốt nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của đối ngoại và hội nhập quốc tế, ngành Ngoại giao xác định:
Một là, phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh và các ban, bộ, ngành, địa phương cả nước giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy; bảo vệ an ninh chế độ, bảo vệ Nhân dân và các thành quả của công cuộc Đổi mới.
Hai là, tranh thủ tối đa các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài, đặc biệt là đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, trọng tâm là ngoại giao công nghệ để góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là mục tiêu tăng trưởng 2 con số từ sau Đại hội Đảng XIV, hiện thực hóa 2 mục tiêu 100 năm mà Đảng ta đề ra cho các cột mốc lịch sử 2030 và 2045, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Ba là, góp phần nâng cao vai trò, vị thế, uy tín quốc tế của Đảng, của đất nước, nâng cao vai trò của Việt Nam trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại, phấn đấu để nước ta được “sánh vai các cường quốc năm châu” như Bác Hồ hằng mong mỏi.
Trong năm 2025, các hoạt động đối ngoại diễn ra sôi động, nhất là của Lãnh đạo chủ chốt, tạo khuôn khổ và tầm nhìn định hướng cho quan hệ. Việt Nam đã nâng cấp quan hệ với 17 đối tác, đưa tổng số đối tác có quan hệ từ Đối tác toàn diện trở lên thành 42 nước với điểm nhấn là tính thực chất và hiệu quả, thể hiện qua việc ký kết gần 350 thỏa thuận hợp tác, tăng gấp 2,5 lần so với năm 2024.
Cùng với đó, Việt Nam cũng đã củng cố quan hệ, mở rộng hợp tác với các chính đảng, tiếp tục coi trọng và phát triển đối ngoại nhân dân dưới nhiều hình thức.





