EVN xây dựng nền tảng công nghệ, hướng tới vị thế dẫn đầu khu vực
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong lĩnh vực năng lượng, một lĩnh vực đang có những chuyển biến mạnh mẽ dưới tác động của khoa học công nghệ, chuyển đổi số và yêu cầu chuyển dịch năng lượng bền vững.
Trước thực tế đó, EVN đã đẩy mạnh đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ, chủ động tiếp cận với những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 để áp dụng vào thực tiễn sản xuất, góp phần quan trọng đưa hệ thống điện Việt Nam vận hành an toàn, ổn định, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) là doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò nòng cốt trong lĩnh vực năng lượng, một lĩnh vực đang có những chuyển biến mạnh mẽ dưới tác động của khoa học công nghệ, chuyển đổi số và yêu cầu chuyển dịch năng lượng bền vững.
Trước thực tế đó, EVN đã đẩy mạnh đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ, chủ động tiếp cận với những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 để áp dụng vào thực tiễn sản xuất, góp phần quan trọng đưa hệ thống điện Việt Nam vận hành an toàn, ổn định, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Một trong các thành tựu nổi bật phải nhắc tới trong lĩnh vực cơ khí điện lực, là việc Tổng công ty Thiết bị điện Đông Anh đã chế tạo thành công máy biến áp 500kV gam công suất 3x300 MVA vào năm 2024. Đây là máy biến áp có công suất lớn nhất trên lưới điện quốc gia hiện nay.
Tại lễ xuất xưởng được tổ chức tháng 12/2024, Thứ trưởng Bộ Công Thương Trương Thanh Hoài khẳng định sản phẩm là thành quả cực kỳ quan trọng, vừa đáp ứng nhu cầu trong nước, vừa góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia trước nhu cầu điện cho phát triển kinh tế - xã hội của nước ta thời gian tới.
Mới đây, ngày 28/9/2026, Tổng công ty Thiết bị điện Đông Anh đã tổ chức Lễ khởi công dự án Khoa học công nghệ cấp Quốc gia “Nghiên cứu, thiết kế, công nghệ chế tạo cuộn kháng bù ngang điện áp 500 kV”. Việc triển khai dự án này không chỉ hướng tới việc tạo ra một sản phẩm khoa học mới, mà còn có ý nghĩa chiến lược trong việc hình thành năng lực thiết kế, chế tạo và thử nghiệm kháng điện 500 kV trong nước. Khi làm chủ công nghệ, có thể góp phần: giảm chi phí nhập khẩu và tổng mức đầu tư các dự án lắp đặt kháng điện 500 kV; chủ động nguồn thiết bị thay thế, tăng cường an ninh năng lượng; nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam; đồng thời khẳng định năng lực tự chủ của Việt Nam trong lĩnh vực kỹ thuật điện siêu cao áp.
Một dấu ấn công nghệ nổi bật khác là việc chuyển đổi các trạm biến áp 220kV sang chế độ vận hành không người trực, mang lại những hiệu quả rõ rệt, đặc biệt về năng suất lao động. Trong 10 năm qua, các trạm 220kV của Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia tăng hơn 70%, còn số lao động phục vụ vận hành trạm biến áp 220kV đã giảm trên 50%.
Đến nay, EVN đã cơ bản hoàn thành mục tiêu chuyển đổi số theo Đề án chuyển đổi số giai đoạn 2021-2025 và đã trở thành doanh nghiệp số vào đầu năm 2025 với một số kết quả tiêu biểu. Cụ thể, EVN đã cắt giảm, tối ưu các thủ tục cung cấp dịch vụ cũng như giảm toàn bộ nhân lực thủ công ghi chỉ số điện và thu tiền điện tại nhà, đồng thời, chuyển đổi sang công tơ điện tử để thu thập dữ liệu tự động nhanh chóng. Nhờ đó, trên 99% khách hàng thanh toán tiền điện không sử dụng tiền mặt. Ước tính hiệu quả chuyển đổi số giúp mỗi năm tiết kiệm khoảng 3.000 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, EVN cũng đưa các trung tâm giám sát từ xa lưới điện phân phối, truyền tải vào hoạt động, trong đó đẩy mạnh ứng dụng AI, Big Data, UAV… vào vận hành lưới điện từ 110 kV trở lên.
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị, EVN đã ban hành Chương trình hành động số 40 ngày 24/2/2025 và Nghị quyết số 65 ngày 27/2/2025. Trên cơ sở đó, tại Văn bản số 2686 ngày 25/4/2025, EVN đã giao 57 nhiệm vụ thuộc 5 nhóm phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đợt 1 năm 2025 cho các đơn vị thành viên.
Việc giao nhiệm vụ được tổ chức theo nguyên tắc mỗi nhiệm vụ có một đơn vị chủ trì; nhiệm vụ có khả năng áp dụng diện rộng được nghiên cứu, thử nghiệm tại đơn vị chủ trì trước khi xem xét nhân rộng, các ban trong EVN theo dõi, đôn đốc và định kỳ báo cáo tiến độ. EVN đồng thời yêu cầu các đơn vị nghiên cứu công nghệ theo hướng hình thành sản phẩm, giải pháp có thể đóng gói và áp dụng chung trong Tập đoàn.
Qua rà soát Quyết định số 808/QĐ-TTg và Kế hoạch ban hành kèm theo Quyết định số 2159/QĐ-BCT của Bộ Công Thương, các nhiệm vụ EVN đang triển khai cơ bản đáp ứng với nhóm công nghệ số, robot và tự động hóa, công nghệ năng lượng và vật liệu tiên tiến, công nghệ biển - đại dương. Đồng thời, gắn trực tiếp với bài toán của ngành Công Thương về bảo đảm an ninh năng lượng, hiện đại hóa hệ thống điện - nhiên liệu xanh, thông minh và tự chủ.
Từ nay đến năm 2030, EVN đặt mục tiêu trở thành đơn vị dẫn đầu trong khu vực Đông Nam Á về khoa học công nghệ, với hệ sinh thái “điện lực thông minh”, trên cơ sở chuyển từ “doanh nghiệp số” sang “EVN thông minh”. Hiện EVN đang tiếp tục và đẩy mạnh các nhiệm vụ, công việc đã đề ra theo hướng cụ thể hóa các công nghệ chiến lược thành nhiệm vụ có sản phẩm đầu ra rõ ràng, trong đó ưu tiên: Hệ thống truyền tải điện một chiều điện áp cao (HVDC) và công nghệ truyền tải hiện đại; hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS); hệ sinh thái dữ liệu - trí tuệ nhân tạo - bản sao số cho hệ thống điện; thiết kế, chế tạo thiết bị điện cao áp, siêu cao áp; chuyển đổi nhiên liệu và giảm phát thải cho nhiệt điện; các giải pháp kỹ thuật phục vụ điện gió ngoài khơi. Việc lựa chọn nhiệm vụ sẽ bám sát nhu cầu sản xuất kinh doanh, khả năng ứng dụng, nhân rộng và lộ trình làm chủ công nghệ, tránh dàn trải.
Đối với các công nghệ lõi, EVN định hướng tăng cường mô hình liên kết giữa doanh nghiệp - viện nghiên cứu - cơ sở giáo dục đại học - doanh nghiệp công nghệ, trong đó EVN và đơn vị thành viên cung cấp bài toán, dữ liệu, môi trường thử nghiệm và nhu cầu ứng dụng; đối tác nghiên cứu tham gia phát triển công nghệ, thiết kế, chế tạo và đào tạo nhân lực.
Nguồn lực thực hiện được huy động từ chi phí hợp pháp của doanh nghiệp, kinh phí khoa học và công nghệ của EVN hoặc đơn vị, nguồn ngân sách nhà nước đối với nhiệm vụ đủ điều kiện và các nguồn hợp tác khác theo quy định. Theo đó, EVN phấn đấu chi phí dành cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo khoảng 0,4% doanh thu và có lực lượng chuyên gia khoa học công nghệ là 12 người/10.000 cán bộ công nhân viên.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai hoạt động khoa học và công nghệ cho thấy, một số công nghệ chiến lược có hàm lượng nghiên cứu và phát triển cao, chu kỳ nghiên cứu dài, yêu cầu thử nghiệm trên hạ tầng điện đang vận hành và tiềm ẩn rủi ro kỹ thuật.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, dù pháp luật đã có cơ chế chấp nhận rủi ro trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc phân định rủi ro khách quan được chấp nhận với trách nhiệm trong quản lý vốn nhà nước vẫn cần được cụ thể hóa. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với việc nghiên cứu và triển khai hệ thống truyền tải điện một chiều điện áp cao, hệ thống pin lưu trữ năng lượng, thiết bị điện công nghệ cao và công nghệ nguồn điện mới.
Đồng thời, việc thử nghiệm, định giá và mua sắm lần đầu sản phẩm khoa học và công nghệ còn khó khăn do sản phẩm mới thường chưa có giá tham chiếu, lịch sử thương mại hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật đầy đủ; nguồn nhân lực chuyên sâu về các công nghệ lõi cũng còn thiếu.
Công nghệ đang tạo nên diện mạo mới cho hệ thống điện Việt Nam hiện đại, minh bạch và vận hành theo chuẩn mực quốc tế. Định hướng đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo Nghị quyết số 57 mở ra không gian phát triển rộng lớn, giúp EVN tiếp tục nâng cao hiệu quả quản trị, tăng năng suất và củng cố vai trò nòng cốt trong hành trình bảo đảm điện cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững.




