ESCO: Giải pháp cho bài toán sử dụng năng lượng hiệu quả

Mô hình ESCO (công ty dịch vụ năng lượng) giúp doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng mà không cần vốn ban đầu, mở ra hướng đi mới cho sản xuất xanh và cạnh tranh bền vững.

Đòn bẩy tiết kiệm năng lượng

Việt Nam đang đứng trước áp lực lớn về an ninh năng lượng. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao, nhu cầu tiêu thụ điện dự báo tăng khoảng 8 - 10% mỗi năm. Trong bối cảnh các nguồn nhiên liệu hóa thạch dần suy giảm, tiết kiệm năng lượng không còn là khẩu hiệu, mà trở thành chìa khóa cạnh tranh sống còn của doanh nghiệp.

Với cơ chế đầu tư từ phần năng lượng tiết kiệm được, mô hình ESCO hứa hẹn tạo cú hích cho thị trường tiết kiệm năng lượng tại Việt Nam

Với cơ chế đầu tư từ phần năng lượng tiết kiệm được, mô hình ESCO hứa hẹn tạo cú hích cho thị trường tiết kiệm năng lượng tại Việt Nam

Trên thế giới, mô hình ESCO (công ty dịch vụ năng lượng) đã phát triển thành một ngành công nghiệp trị giá hàng tỷ USD. Thay vì phải tự bỏ ra hàng chục tỷ đồng để thay thế hệ thống lò hơi hay lắp đặt điện mặt trời mái nhà, nhiều doanh nghiệp lựa chọn hợp tác với ESCO. Tại đây ESCO đóng vai trò như “bác sĩ năng lượng” để đánh giá mức tiêu thụ, đầu tư thiết bị, vận hành hệ thống và thu hồi vốn từ chính phần năng lượng tiết kiệm được. Nói cách khác, ESCO đầu tư giải pháp, còn doanh nghiệp hưởng lợi từ chi phí năng lượng giảm xuống.

Mô hình này tạo ra một vòng tròn lợi ích với doanh nghiệp không phải bỏ vốn ban đầu nhưng vẫn giảm được chi phí vận hành, đồng thời cắt giảm phát thải carbon. Tiềm năng phát triển ESCO tại Việt Nam được đánh giá rất lớn, đặc biệt trong các ngành tiêu thụ nhiều năng lượng như thép, xi măng hay dệt may. Nhiều nghiên cứu cho thấy, dư địa tiết kiệm năng lượng trong công nghiệp có thể lên tới 30-40%.

Tuy vậy, số lượng dự án ESCO thực thụ tại Việt Nam vẫn còn khiêm tốn. Rào cản không chỉ nằm ở công nghệ, mà còn ở quy mô doanh nghiệp nhỏ lẻ, khả năng tài chính hạn chế của các công ty ESCO trong nước, cũng như tâm lý dè dặt từ phía các tổ chức tín dụng.

Một điểm nghẽn khác là khung pháp lý cho loại hình dịch vụ này vẫn chưa thật sự rõ ràng, khiến cả nhà đầu tư lẫn ngân hàng còn e ngại khi rót vốn. Để hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam cần những cú hích mạnh mẽ hơn về cơ chế, chính sách dành riêng cho ESCO. Khi dòng vốn xanh được khơi thông, mô hình này có thể trở thành đòn bẩy quan trọng, giúp doanh nghiệp giảm chi phí, tăng năng lực cạnh tranh và đưa nền sản xuất Việt Nam tiến sâu hơn vào bản đồ kinh tế xanh toàn cầu.

Tại tọa đàm “Phát triển thị trường đầu tư tiết kiệm năng lượng” diễn ra mới đây, TS. Đào Hồng Thái, Phó Chủ tịch Hội Khoa học và Công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Việt Nam (VECEA) đã có những chia sẻ về tiềm năng và vai trò của ESCO trong quá trình phát triển năng lượng bền vững tại Việt Nam.

TS. Đào Hồng Thái, Phó Chủ tịch Hội Khoa học và Công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Việt Nam

TS. Đào Hồng Thái, Phó Chủ tịch Hội Khoa học và Công nghệ sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Việt Nam

Theo đó, trong quá trình phát triển năng lượng, để bảo đảm an ninh năng lượng ở mức ngày càng cao, rõ ràng chúng ta phải có nguồn năng lượng đáp ứng được yêu cầu phát triển. Đồng thời, việc sử dụng năng lượng cũng phải hướng tới hiệu quả, tiết kiệm và bền vững.

Thực tế thời gian qua cho thấy, qua nhiều báo cáo và phản ánh, tiềm năng tiết kiệm năng lượng của Việt Nam vẫn còn rất lớn. Trong bối cảnh đó, mô hình ESCO được xem là một giải pháp đáng chú ý. Đây là mô hình kết hợp giữa đổi mới công nghệ, giải pháp tài chính và việc hình thành một thị trường để doanh nghiệp có thể tham gia các dự án tiết kiệm năng lượng”, ông Thái thông tin.

Khơi thông cơ chế

Đại diện VECEA cho rằng, thông qua mô hình này, các doanh nghiệp có thể đầu tư công nghệ, chia sẻ lợi ích từ việc tiết kiệm năng lượng và thu lợi nhuận từ chính hiệu quả năng lượng mang lại. Từ đó, ESCO tạo động lực để doanh nghiệp chủ động triển khai các giải pháp tiết kiệm năng lượng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Theo Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, việc thực hiện pháp luật và chính sách trong lĩnh vực năng lượng, đặc biệt là tiết kiệm năng lượng, vẫn còn nhiều bất cập. Điều này đòi hỏi trong giai đoạn tới phải có những điều chỉnh về cơ chế, chính sách, nhằm huy động được nhiều nguồn vốn hơn và tạo điều kiện cho nhiều thành phần tham gia vào lĩnh vực năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.

Trong khi đó, theo ông Nguyễn Xuân Quang, giảng viên Khoa năng lượng nhiệt, Trường Cơ khí, Đại học Bách Khoa Hà Nội, ở Việt Nam hiện nay mới chỉ đang từng bước tiếp cận mô hình ESCO. Các doanh nghiệp dịch vụ năng lượng trong nước phần lớn vẫn tập trung vào hoạt động tư vấn, trong khi số doanh nghiệp thực sự tham gia thị trường ESCO còn rất hạn chế.

Nếu nhìn từ góc độ doanh nghiệp, có thể thấy mô hình này gắn liền với các hợp đồng EPC, tức là hợp đồng về hiệu quả năng lượng. Với loại hợp đồng này, lợi nhuận được tạo ra từ việc chứng minh hiệu quả sử dụng năng lượng, cụ thể là lượng năng lượng tiết kiệm được sau khi triển khai giải pháp. Tuy nhiên, quá trình chứng minh mức tiết kiệm đó trên thực tế lại gặp không ít khó khăn”, ông Quang đánh giá.

Theo ông Quang, vì vậy, phần lớn các doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay vẫn hoạt động theo cách gần giống như bán thiết bị, bán giải pháp năng lượng, thay vì tham gia đầy đủ vào chuỗi giá trị ESCO như trên thế giới. Ở các thị trường phát triển, hoạt động ESCO đa dạng hơn rất nhiều. Doanh nghiệp ESCO có thể đến một cơ sở sản xuất, cam kết mức tiết kiệm năng lượng cụ thể. Khi dự án tiết kiệm năng lượng được triển khai thành công, họ sẽ được hưởng phần lợi ích tương ứng từ lượng năng lượng tiết kiệm đó.

Tuy nhiên, để xác định được mức chia sẻ lợi ích này, có một khâu vô cùng quan trọng, đó là đo lường và xác minh. Nếu không đo lường, xác minh được chính xác lượng năng lượng tiết kiệm, thì không thể tính toán được phần chi trả hay lợi nhuận cho hoạt động tiết kiệm năng lượng. Vì thế, đo lường và xác minh chính là nền tảng để các hợp đồng hiệu quả năng lượng và mô hình ESCO có thể vận hành một cách minh bạch và bền vững”, đại diện Đại học Bách Khoa Hà Nội nhận định.

Mô hình ESCO giúp doanh nghiệp triển khai giải pháp tiết kiệm năng lượng mà không cần vốn ban đầu, chi phí được hoàn trả từ phần năng lượng tiết kiệm. Để ESCO phát triển đúng tiềm năng, cần hoàn thiện khung pháp lý, chuẩn hóa đo lường, xác minh và khơi thông nguồn vốn xanh.

Thanh Bình

Có thể bạn quan tâm

Bình luận