EPR ngành dược, mỹ phẩm: Trách nhiệm phải được đo bằng kết quả tái chế

Định hướng bỏ cơ chế đóng góp tài chính đang đặt doanh nghiệp dược, mỹ phẩm trước yêu cầu chứng minh trách nhiệm bằng kết quả tái chế thực tế.

Chiều 15/9, Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) tổ chức hội thảo “Thúc đẩy tái chế bao bì trong ngành dược, mỹ phẩm - Hướng tới kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững”.

Chuyển từ “đóng tiền” sang tổ chức tái chế thực chất

Chia sẻ tại hội thảo, ông Đỗ Xuân Thuấn, đại diện Văn phòng EPR Quốc gia, Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho hay, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR) gồm trách nhiệm tái chế và trách nhiệm xử lý chất thải. Đối với ngành dược phẩm, mỹ phẩm, trọng tâm hiện nay là trách nhiệm tái chế bao bì. Trách nhiệm được xác định trên cơ sở khối lượng bao bì doanh nghiệp đưa ra thị trường và tỷ lệ tái chế theo quy định. Doanh nghiệp có thể tự tổ chức tái chế, thuê đơn vị tái chế hoặc ủy quyền cho tổ chức trách nhiệm của nhà sản xuất (PRO).

Toàn cảnh Hội thảo

Toàn cảnh Hội thảo

Trách nhiệm tái chế bao bì bắt đầu thực hiện từ ngày 1/1/2024. Theo lộ trình, khối lượng bao bì đưa ra thị trường năm 2025 là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm trong năm 2026. Với lượng bao bì đưa ra thị trường năm 2026, doanh nghiệp phải kê khai trước ngày 1/4/2027 để xác định và thực hiện trách nhiệm tái chế trong năm 2027. Điểm mới được quan tâm nhất là định hướng chính sách trong thời gian tới.

Theo ông Thuấn, cơ quan quản lý đang nghiên cứu theo hướng không còn duy trì hình thức đóng góp tài chính, thay vào đó yêu cầu nhà sản xuất, nhập khẩu trực tiếp tổ chức thực hiện trách nhiệm tái chế. Điều này không có nghĩa doanh nghiệp phải tự đầu tư nhà máy và trực tiếp xử lý toàn bộ lượng bao bì. Khái niệm được sử dụng trong định hướng chính sách là “tự tổ chức tái chế”, với nhiều phương thức linh hoạt.

Doanh nghiệp có thể tự thực hiện một phần, thuê các đơn vị thu gom, tái chế đủ điều kiện hoặc ủy quyền cho PRO tổ chức toàn bộ chuỗi. Vấn đề cốt lõi là doanh nghiệp phải chủ động thiết lập mạng lưới và chứng minh được kết quả tái chế theo trách nhiệm được giao. Vai trò của PRO cũng được tính đến trong quá trình hoàn thiện chính sách. Hiện doanh nghiệp vẫn chịu trách nhiệm cuối cùng nếu PRO không hoàn thành phần việc được ủy quyền. Định hướng mới là từng bước xác lập PRO như một chủ thể có khả năng nhận chuyển giao trách nhiệm của nhà sản xuất, nhập khẩu, đồng thời phải chứng minh năng lực để doanh nghiệp có cơ sở lựa chọn. "Thực tiễn thời gian qua cho thấy nhiều doanh nghiệp tiên phong đã chủ động xây dựng hệ thống thu gom, xử lý bao bì và liên kết với các đơn vị thu gom, tái chế chuyên nghiệp. Những mô hình này là cơ sở thực tiễn quan trọng để cơ quan quản lý nghiên cứu hoàn thiện chính sách", ông Thuấn chia sẻ.

Bao bì có thể tái chế chưa đồng nghĩa được tái chế

Với ngành dược phẩm, mỹ phẩm, chuyển đổi này đặt ra bài toán phức tạp hơn do bao bì có nhiều loại vật liệu và nguồn phát sinh phân tán. Nhựa, giấy, thủy tinh, kim loại, bao bì đa lớp, bao bì phức hợp, vỉ thuốc... có yêu cầu khác nhau về phân loại, an toàn và công nghệ xử lý. Bà Lý Thị Hồng Điệp, Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường, cho rằng EPR không chỉ là nghĩa vụ tuân thủ mà còn có thể trở thành động lực để doanh nghiệp thay đổi thiết kế sản phẩm, lựa chọn vật liệu thân thiện hơn với môi trường và tiết kiệm tài nguyên. 

Bà Lý Thị Hồng Điệp, Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường phát biểu tại Hội thảo

Bà Lý Thị Hồng Điệp, Phó Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường phát biểu tại Hội thảo

Thực tế doanh nghiệp cho thấy, đây là những mắt xích không thể tách rời. Bà Lê Thị Hồng Nhi, Phó Tổng Giám đốc Truyền thông, Đối ngoại và Phát triển bền vững Unilever Việt Nam, cho biết doanh nghiệp đã triển khai thu gom, tái chế bao bì từ trước khi các quy định EPR được ban hành. Tỷ lệ bao bì có khả năng tái chế trong danh mục sản phẩm của Unilever Việt Nam hiện đạt trên 71%. Tuy nhiên, bao bì có khả năng tái chế chưa đồng nghĩa với việc bao bì được tái chế trên thực tế. Sau khi sản phẩm được sử dụng, bao bì phải được người tiêu dùng phân loại, được thu gom theo từng dòng vật liệu và chuyển tới cơ sở tái chế phù hợp. Nếu thiếu một trong những mắt xích này, khả năng tái chế trên lý thuyết khó chuyển thành kết quả thực tế.

"Điểm nghẽn hiện nay nằm ở phân loại, thu gom và công nghệ tái chế. Bao bì dù được thiết kế có khả năng tái chế nhưng nếu không được thu gom riêng, loại bỏ tạp chất thì khó trở thành nguyên liệu tái sinh. Công nghệ tái chế tại một số cơ sở, làng nghề cũng chưa đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Trong khi đó, đầu ra cho vật liệu tái sinh còn hạn chế. Do đó, cần kết nối đồng bộ từ thu gom, tái chế đến tiêu thụ, đồng thời có chính sách khuyến khích doanh nghiệp sử dụng vật liệu tái chế để hình thành thị trường và vận hành hiệu quả chu trình tuần hoàn", bà Nhi chia sẻ.

Phiên Tọa đàm 'Các giải pháp thúc đẩy hoạt động tái chế bao bì ngành dược, mỹ phẩm hiệu quả và bền vững' trong khuôn khổ Hội thảo.

Phiên Tọa đàm 'Các giải pháp thúc đẩy hoạt động tái chế bao bì ngành dược, mỹ phẩm hiệu quả và bền vững' trong khuôn khổ Hội thảo.

Từ góc độ ngành y tế, bà Nguyễn Thị Thanh Tâm, Phó Trưởng phòng Y tế trường học và Môi trường y tế, Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế), cho biết công tác quản lý chất thải y tế hiện đã được quy định tương đối đầy đủ từ phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ đến chuyển giao. Chỉ thị 08/CT-BYT của Bộ Y tế yêu cầu phân loại chất thải nhựa, chất thải nilon khó phân hủy để thu gom, tái chế theo quy định. Thông tư 20/2021/TT-BYT cũng quy định danh mục một số loại chất thải được phép thu gom phục vụ tái chế như thủy tinh, giấy, nhựa, kim loại và chất thải phát sinh từ hoạt động sinh hoạt thường ngày.

Tuy nhiên, không phải mọi loại bao bì phát sinh trong cơ sở y tế đều có thể đưa vào dòng tái chế. Vật liệu phải đáp ứng các yêu cầu về an toàn, không chứa hoặc dính thuốc, hóa chất thuộc nhóm gây độc tế bào, không có cảnh báo nguy hại và không chứa yếu tố lây nhiễm. Chất thải phát sinh từ khu vực cách ly hoặc điều trị bệnh truyền nhiễm cũng không được thu gom để tái chế. Đáng chú ý, ngay cả khi cơ sở y tế đã thực hiện phân loại, khâu tiếp nhận vẫn có thể trở thành điểm nghẽn.

Theo bà Tâm, Bộ Y tế ghi nhận trường hợp một số đơn vị môi trường đô thị từ chối tiếp nhận chất thải thông thường như vỏ chai, lọ thuốc, chai dịch truyền bằng thủy tinh. Một số chất thải lây nhiễm sau xử lý đạt tiêu chuẩn và trở thành chất thải thông thường cũng gặp tình trạng tương tự. Khó khăn càng lớn đối với các cơ sở quy mô nhỏ như trạm y tế, phòng khám, đơn vị y tế dự phòng. Lượng chất thải phát sinh ít, địa bàn phân tán, trong khi không nhiều đơn vị sẵn sàng tổ chức thu gom, vận chuyển với khối lượng nhỏ. “Cơ sở có thể thực hiện phân loại, nhưng nếu không có đơn vị có chức năng tiếp nhận và xử lý thì cũng khó hoàn thành các yêu cầu đặt ra”, bà Tâm cho biết.

Tại Hội thảo, các chuyên gia cho rằng, EPR không thể chỉ là câu chuyện của nhà sản xuất, nhập khẩu. Nếu thiếu hệ thống thu gom, phân loại và đơn vị tiếp nhận đủ năng lực, ngay cả dòng vật liệu đã được phân loại cũng khó đi đến khâu tái chế. Bài toán vì vậy nằm ở khả năng kết nối toàn chuỗi. Khi các mắt xích được kết nối, trách nhiệm EPR mới thực sự tạo ra giá trị kinh tế thay vì chỉ dừng ở một nghĩa vụ hành chính.

Ông Tạ Mạnh Hùng, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế), cho hay:

Trách nhiệm tái chế bao bì thuộc về nhà sản xuất, nhập khẩu dược phẩm, mỹ phẩm, không phải nhà cung cấp bao bì. Đây không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn liên quan đến uy tín và lợi ích kinh tế lâu dài của doanh nghiệp. Để thúc đẩy tái chế bao bì, cần sự phối hợp của bốn mắt xích: cơ quan quản lý hoàn thiện chính sách; doanh nghiệp đổi mới thiết kế, sử dụng vật liệu tái chế; cộng đồng nâng cao trách nhiệm phân loại, thu gom; và hệ thống tái chế bảo đảm công nghệ, đầu ra. Cục Quản lý Dược cam kết phối hợp hoàn thiện chính sách, tháo gỡ thủ tục và khuyến khích sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường, phù hợp đặc thù ngành dược.

Nguyễn Hạnh

Có thể bạn quan tâm