
Phát triển công nghệ chiến lược có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng lực tự chủ công nghệ, tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và củng cố sức cạnh tranh của nền kinh tế. Đối với ngành hóa chất, việc nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ chiến lược càng có ý nghĩa thiết thực, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện chất lượng sản phẩm, đồng thời tạo điều kiện để các đơn vị sản xuất, nghiên cứu trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Qua đó, ngành hóa chất có thêm cơ sở để phát triển theo hướng hiện đại, xanh và bền vững, phù hợp với định hướng phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Tại Hội nghị phổ biến và tổ chức triển khai phát triển công nghệ chiến lược ngành Công Thương do Bộ Công Thương tổ chức mới đây, ông Bùi Khắc Hinh, chuyên viên Ban Kỹ thuật, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam cho biết, triển khai nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược được Chính phủ và Bộ Công Thương giao, Vinachem xác định: Kết quả cần hướng tới là sản phẩm đáp ứng yêu cầu thị trường, được thương mại hóa và có năng lực công nghệ thực chất do doanh nghiệp từng bước làm chủ.
Trên cơ sở năng lực hiện có, Vinachem tập trung vào hai nhóm sản phẩm: Pin sodium-ion và hệ thống lưu trữ năng lượng BESS; hóa chất tinh khiết, siêu tinh khiết phục vụ ngành điện tử, bán dẫn. Đây là những lĩnh vực gắn với nhu cầu chuyển dịch năng lượng và phát triển công nghiệp công nghệ cao, đồng thời mở ra cơ hội nâng cao giá trị gia tăng cho ngành hóa chất.
Ngành hóa chất đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nêu cụ thể 3 nội dung trọng tâm Vinachem triển khai nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, ông Bùi Khắc Hinh thông tin, thứ nhất, lựa chọn sản phẩm chiến lược phải gắn với lợi thế của doanh nghiệp và lộ trình làm chủ công nghệ khả thi.
Theo đó, đối với pin sodium-ion và BESS, Vinachem giao Công ty Cổ phần Pin Ắc quy miền Nam (PINACO) triển khai trên nền tảng kinh nghiệm sản xuất, quản lý chất lượng và hệ thống phân phối hiện có.
PINACO đã xây dựng lộ trình nghiên cứu, triển khai thực hiện; bước đầu đã ký hợp tác với các đối tác nước ngoài trong việc nghiên cứu và kinh doanh, đưa sản phẩm pin sodium-ion phục vụ xe máy điện và xe đạp điện; đồng thời đào tạo nhân lực, thử nghiệm và chuẩn bị lộ trình đầu tư dây chuyền đóng gói pin trong nước. Sản phẩm mang thương hiệu PINACO dự kiến được thương mại hóa trong năm 2026.
Đối với BESS, PINACO đã cơ bản hoàn thành phòng thí nghiệm chuyên dụng; triển khai mô hình điện mặt trời áp mái 500 kWp kết hợp hệ thống lưu trữ 125 kW/250 kWh tại Nhà máy Pin Con Ó. Mô hình này tạo cơ sở đánh giá hiệu quả vận hành, an toàn và khả năng tích hợp trước khi mở rộng thương mại.
Vấn đề cốt lõi là chuyển từng bước từ hợp tác cung ứng sản phẩm sang năng lực thiết kế, tích hợp và kiểm soát hệ thống. PINACO đặt mục tiêu thương mại hóa phần mềm quản lý năng lượng EMS tự phát triển trong năm 2027 và hệ thống quản lý pin BMS nội bộ vào năm 2028.
Công nghiệp hóa chất Việt Nam đặt mục tiêu phát triển với đa số các phân ngành có công nghệ tiên tiến, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Lộ trình này cần được đánh giá bằng khả năng vận hành ổn định, kiểm soát an toàn, tối ưu chi phí và cung cấp dịch vụ trong suốt vòng đời sản phẩm. Tỷ lệ nội địa hóa phải đi cùng năng lực kỹ thuật và trách nhiệm chất lượng.
Đối với hóa chất tinh khiết, siêu tinh khiết, Vinachem giao Công ty Cổ phần Hóa chất Cơ bản Miền Nam và Công ty Cổ phần DAP - Vinachem nghiên cứu các sản phẩm axit phosphoric, axit sulfuric phù hợp với thế mạnh nguyên liệu và công nghệ của từng đơn vị.
Thứ hai, phải nhận diện đúng khoảng cách giữa năng lực sản xuất hiện có và yêu cầu của thị trường công nghệ cao: Trong lĩnh vực hóa chất phục vụ điện tử, bán dẫn, nồng độ axit cao chưa đủ để khẳng định sản phẩm đạt cấp chất lượng của ngành. Yêu cầu quyết định là kiểm soát tạp chất, nhiễm bẩn và độ ổn định giữa các lô; đồng thời bảo đảm chất lượng xuyên suốt từ sản xuất đến đóng gói, vận chuyển và sử dụng.
Vì vậy, đầu tư phải đồng bộ giữa công nghệ tinh chế, thiết bị và vật liệu tiếp xúc, hệ thống phân tích, bao bì chuyên dụng và quy trình kiểm soát chất lượng. Một kết quả nghiên cứu chỉ trở thành sản phẩm thương mại khi được khách hàng thử nghiệm, đánh giá và chấp thuận.
Hiện nay, Hóa chất Cơ bản Miền Nam đang phối hợp với các trường đại học nghiên cứu axit phosphoric siêu tinh khiết, dự kiến hoàn thành nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm trong năm 2027, hướng tới thương mại hóa giai đoạn 2028 - 2030. Công ty cũng đã sản xuất thử quy mô nhỏ axit sulfuric tinh khiết phục vụ nhu cầu của dự án sợi carbon, làm cơ sở tiếp tục đánh giá khả năng sản xuất công nghiệp.
DAP - Vinachem đang nghiên cứu công nghệ sản xuất axit phosphoric sạch, tinh khiết phục vụ thực phẩm và điện tử, hướng tới đưa sản phẩm ra thị trường trong giai đoạn 2028-2030.
Khoa học và công nghệ là giải pháp quan trọng giúp doanh nghiệp ngành hóa chất tối ưu chi phí và nâng cao sức cạnh tranh.
Vinachem xác định cần phát triển theo từng cấp chất lượng và yêu cầu cụ thể của khách hàng. Mỗi bước đầu tư phải có căn cứ kỹ thuật, thị trường và hiệu quả kinh tế; tránh mở rộng quy mô khi chưa chứng minh được chất lượng ổn định và khả năng tiêu thụ.
Thứ ba, tháo gỡ điểm nghẽn phải tập trung vào hạ tầng thử nghiệm, nguồn lực dài hạn và thị trường đầu tiên. Hai nhóm sản phẩm đều đòi hỏi chi phí nghiên cứu, thử nghiệm và chứng nhận lớn, trong khi doanh thu chưa hình thành ngay. BESS chịu sức ép cạnh tranh về giá và yêu cầu an toàn cao; hóa chất siêu tinh khiết phải vượt qua quá trình đánh giá nhà cung cấp khắt khe. Doanh nghiệp cần nguồn lực đủ bền vững để đi hết quá trình từ nghiên cứu đến thương mại hóa.

Từ thực tiễn triển khai, Vinachem đề nghị Bộ Công Thương quan tâm xem xét, kiến nghị với cấp có thẩm quyền ba vấn đề: Một là, thúc đẩy hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật và cơ chế đánh giá phù hợp đối với BESS; hỗ trợ năng lực phân tích, thử nghiệm và chứng nhận hóa chất phục vụ điện tử, bán dẫn. Đây là cơ sở bảo đảm an toàn, kiểm soát chất lượng và cạnh tranh minh bạch.
Hai là, phối hợp xây dựng cơ chế hỗ trợ nghiên cứu, sản xuất thử và chuyển giao công nghệ theo kết quả đầu ra. Ưu tiên hạ tầng thử nghiệm dùng chung, đào tạo nhân lực và các dự án có lộ trình làm chủ công nghệ rõ ràng; xem xét hỗ trợ phù hợp đối với thiết bị, linh kiện trong nước chưa sản xuất được.
Ba là, hỗ trợ kết nối doanh nghiệp với khách hàng để hình thành thị trường đầu tiên. Đối với BESS, lựa chọn mô hình trình diễn có nhu cầu thực, đo lường được hiệu quả và bảo đảm an toàn. Đối với hóa chất, thúc đẩy hợp tác với doanh nghiệp điện tử, bán dẫn thông qua đặt hàng thử nghiệm, đánh giá sản phẩm và công nhận nhà cung cấp.
Vinachem xác định trách nhiệm của doanh nghiệp là tổ chức thực hiện có trọng tâm, bố trí nguồn lực phù hợp và chịu trách nhiệm về kết quả. Liên kết với viện, trường và đối tác công nghệ phải gắn với bài toán cụ thể, sản phẩm đầu ra và khả năng tiếp nhận công nghệ.
