
Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia xác định: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới.
Triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Bộ Công Thương đã từng bước đưa chuyển đổi số vào các lĩnh vực quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ công. Những kết quả bước đầu cho thấy chuyển đổi số không chỉ giúp số hóa quy trình xử lý công việc mà còn góp phần đổi mới phương thức quản trị, nâng cao hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Theo Bộ Công Thương, về thủ tục hành chính và dịch vụ công trực tuyến, đến ngày 30/6/2026, hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung đã cấu hình 503 thủ tục hành chính; tiếp nhận 67.850 hồ sơ từ đầu năm, trong đó 67.145 hồ sơ trực tuyến, đạt khoảng 99%. Bộ đã công khai 511 thủ tục hành chính trên Cổng Dịch vụ công quốc gia và tích hợp 265 dịch vụ công trực tuyến.
Bộ đã đơn giản hóa giấy tờ công dân đối với 64/67 thủ tục hành chính; thực thi 59/162 thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu và xây dựng phương án đối với 94/264 thủ tục hành chính nội bộ. Việc tích hợp 41 loại giấy tờ lên VNeID đã sẵn sàng về dữ liệu, chờ hướng dẫn kỹ thuật.
Hội nghị Ban Chỉ đạo của Bộ Công Thương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06.
Bên cạnh đó, Bộ phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa 55,34% thủ tục hành chính (233/421 thủ tục), tiết kiệm khoảng 491,3 tỷ đồng chi phí tuân thủ; hoàn thành phân cấp 43/45 thủ tục hành chính, đạt 95,5%. Đặc biệt, Bộ Công Thương tiếp tục thuộc nhóm 3 bộ, ngành dẫn đầu về phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Về hạ tầng, kiến trúc số, Trung tâm dữ liệu và các nền tảng dùng chung của Bộ được duy trì an toàn, ổn định. Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu LGSP đã kết nối cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia về đăng ký doanh nghiệp; dữ liệu thương mại điện tử được chia sẻ với Bộ Tài chính; hệ thống theo dõi nhiệm vụ được kết nối với hệ thống của Chính phủ. CSDL kinh tế công nghiệp và thương mại đã đồng bộ 16/16 nhóm chỉ tiêu với Trung tâm dữ liệu quốc gia; CSDL hóa chất, tiền chất có khoảng 204.000 dữ liệu, đã kết nối API và đang tiếp tục làm sạch, xác thực.
Về các nền tảng số quốc gia, nền tảng số dùng chung ngành, lĩnh vực: Hệ thống giải quyết thủ tục hành chính tập trung được triển khai cho 34/34 tỉnh, thành phố; 3.292/3.380 đơn vị đã khai báo đầy đủ thông tin vận hành. Đối với 234 thủ tục hành chính cấp Bộ, 100% đã cung cấp trực tuyến; hệ thống có hơn 160.000 tổ chức, cá nhân sử dụng thường xuyên và đã tiếp nhận trên 938.000 hồ sơ lũy kế. Bộ đã xây dựng kho dữ liệu điện tử của tổ chức, cá nhân; kết nối kho dữ liệu của Cổng Dịch vụ công quốc gia và các cơ sở dữ liệu quốc gia; hoàn thành hệ thống học liệu điện tử phục vụ “Bình dân học vụ số”.
Về dữ liệu số, Bộ đã đồng bộ dữ liệu 9.780 cán bộ, công chức, viên chức với CSDL quốc gia; công khai gần 40 CSDL và dữ liệu mở. Hệ thống Verigoods vận hành từ ngày 23/12/2025; CSDL xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý thị trường, hệ thống INS và Hệ thống quản lý xăng dầu quốc gia được kết nối, khai thác; ứng dụng “Quanh tôi” được ra mắt ngày 1/6/2026 để hỗ trợ người dân tìm cửa hàng xăng dầu gần nhất.
Về phát triển kinh tế số, xã hội số, quy mô thương mại điện tử B2C trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 13,9 tỷ USD, tăng 17,9% so với cùng kỳ. Các Chương trình “Sức sống hàng Việt” và Verigoods hỗ trợ quảng bá, truy xuất, minh bạch hàng hóa được đẩy mạnh.

Chia sẻ với phóng viên Báo Công Thương, TS. Tô Hoài Nam, Tổng thư ký kiêm Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam nhận định, năm 2025, Bộ Công Thương vươn lên dẫn đầu trong khối các bộ, ngành về chỉ số phục vụ người dân, doanh nghiệp trong thực hiện thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công là một kết quả rất đáng ghi nhận, phản ánh rõ nét hiệu quả của quá trình đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính thời gian qua. Điều này không chỉ cho thấy quyết tâm chính trị cao mà còn thể hiện sự chuyển biến thực chất từ tư duy “quản lý” sang “phục vụ”, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Kết quả này mang lại tác động tích cực rất rõ đối với cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khi thủ tục hành chính được số hóa, minh bạch và rút ngắn thời gian xử lý, chi phí tuân thủ giảm đáng kể, giúp doanh nghiệp tiết kiệm nguồn lực, nâng cao hiệu quả hoạt động và chủ động hơn trong kế hoạch sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cũng góp phần củng cố niềm tin của doanh nghiệp vào các cơ quan quản lý nhà nước.
“Về lâu dài, nếu những cải cách này được triển khai sâu rộng và nhất quán, sẽ không chỉ dừng lại ở việc cải thiện chỉ số, mà còn tạo ra một nền hành chính hiện đại, minh bạch, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia” - TS. Tô Hoài Nam cho hay.
Ông Trần Đức Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Logistics Hà Nội (HNLA) cho biết, ở góc độ doanh nghiệp, chúng tôi đánh giá cao công tác chuyển đổi số và cải cách thủ tục hành chính của Bộ Công Thương. Việc số hóa quy trình, tăng tỷ lệ hồ sơ trực tuyến, cắt giảm thủ tục, giấy tờ và điều kiện kinh doanh giúp doanh nghiệp giảm thời gian đi lại, chi phí tuân thủ và chủ động hơn trong thực hiện các thủ tục với cơ quan quản lý.
Đặc biệt, việc từng bước xử lý thủ tục dựa trên dữ liệu mở ra cách tiếp cận mới, khi doanh nghiệp không phải nhiều lần cung cấp những thông tin mà cơ quan nhà nước đã có. “Đây cũng là nền tảng để xây dựng môi trường hành chính minh bạch, thuận tiện hơn, qua đó giúp doanh nghiệp dành thêm nguồn lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và đổi mới sáng tạo” - ông Trần Đức Nghĩa nói.
Tại Quyết định số 405/QĐ-BCT của Bộ Công Thương về kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn 2026 - 2030 nêu rõ mục tiêu: Xây dựng Bộ Công Thương số hoạt động dựa trên dữ liệu và công nghệ số, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công chất lượng cao. Kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu. Xã hội số phát triển văn minh, an toàn, bao trùm.
Trung tâm dữ liệu Bộ Công Thương.
Trong đó, có các mục tiêu cụ thể về phát triển Chính phủ số, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước. Quyết định số 405/QĐ-BCT yêu cầu cung cấp dịch vụ số bao trùm, thông minh, với một số chỉ tiêu cơ bản bao gồm: Giai đoạn năm 2026 - 2027, 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện được thực hiện trực tuyến toàn trình; 100% thông tin, giấy tờ, tài liệu trong các thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh chỉ cung cấp một lần cho cơ quan hành chính nhà nước.
100% dịch vụ công trực tuyến toàn trình thiết yếu được ứng dụng AI trong ít nhất một trong các khâu tiếp nhận, xử lý hồ sơ, hỗ trợ người dùng hoặc ra quyết định tự động, nhằm nâng cao hiệu quả, tốc độ và chất lượng phục vụ; 95% người dân, doanh nghiệp đánh giá hài lòng khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến.
Giai đoạn 2028 - 2030: 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa; 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính đã được số hóa và tái sử dụng trong tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính; 100% các ứng dụng, nền tảng được ban hành theo Quyết định số 33/2025/QĐ-TTg ngày 15/9/2025 của Thủ tướng Chính phủ phải được triển khai sử dụng trên Mạng truyền số liệu chuyên dùng.
Về quản lý, chỉ đạo, điều hành thông minh, an toàn dựa trên dữ liệu, giai đoạn năm 2026 - 2027: 100% thủ tục hành chính nội bộ trong Bộ được thực hiện quản trị nội bộ trên môi trường điện tử; 100% các nền tảng số quốc gia, nền tảng số dùng chung của ngành, lĩnh vực phục vụ Chính phủ số hoàn thành, đưa vào sử dụng theo đúng kế hoạch; 100% đạt cấp độ 3 mức độ trưởng thành về quản trị dữ liệu; 100% cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo kỹ năng số cơ bản...
Giai đoạn năm 2028 - 2030, Bộ Công Thương phấn đấu đạt cấp độ 4 mức độ trưởng thành về quản trị dữ liệu; 100% hệ thống thông tin được kết nối, chia sẻ dữ liệu qua dịch vụ chia sẻ dữ liệu; vận hành Trung tâm giám sát, điều hành thông minh ứng dụng công nghệ; 90% phản hồi, góp ý của người dân từ Cổng Dịch vụ công quốc gia, mạng xã hội, hệ thống phản ánh hiện trường... được trợ lý ảo hỗ trợ xử lý; 100% nhiệm vụ của Bộ thực hiện được theo dõi, quản lý, giám sát trên môi trường số; 100% thực hiện việc chỉ đạo, điều hành, quản trị nội bộ trên môi trường số...
Về phát triển kinh tế số, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy tăng trưởng hai con số của nền kinh tế, Quyết định số 405/QĐ-BCT nêu, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho thương mại điện tử phát triển bền vững. Đồng thời đặt mục tiêu, dân số trưởng thành tham gia mua sắm trực tuyến đạt 70%; doanh số bán lẻ thương mại điện tử tăng từ 20 - 30%/năm, chiếm 20% so với tổng mức bán lẻ hàng hóa cả nước; tỷ lệ doanh nghiệp đáp ứng bộ tiêu chí quốc gia về thương mại điện tử bền vững đạt 60%.
Tỷ lệ doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử phấn đấu đạt trên 70%; 100% các giao dịch trên nền tảng thương mại điện tử có hóa đơn điện tử; thanh toán không dùng tiền mặt trong thương mại điện tử đạt 80%; chi phí trung bình cho giao hàng chặng cuối trong thương mại điện tử chiếm không quá 8-15% doanh thu; 60% doanh nghiệp vừa và nhỏ tiến hành hoạt động kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử.

Không dừng ở việc triển khai các nhiệm vụ thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện, sâu rộng trong mọi lĩnh vực, Bộ Công Thương còn đặt mục tiêu xử lý đến cùng những điểm nghẽn, tháo gỡ những vấn đề còn tồn tại nhằm tạo chuyển biến rõ nét trong tổ chức thực hiện.
Ngày 20/7/2026, Bộ Công Thương đã có Quyết định số 1823/QĐ-BCT về việc ban hành Kế hoạch bổ sung nhiệm vụ của Bộ Công Thương thực hiện Kết luận của Tổng Bí thư; Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị.
Kế hoạch chỉ rõ mục đích nhằm quán triệt sâu sắc và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương; Thủ tướng Chính phủ và Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị tại Thông báo số 24, Thông báo số 25 và Kế hoạch số 05 của Ban Chỉ đạo Trung ương, bảo đảm chất lượng và tiến độ theo yêu cầu; trong đó, tập trung khắc phục ngay những tồn tại, hạn chế, triển khai quyết liệt, hiệu quả các yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nêu tại các Thông báo, Kế hoạch nêu trên, nhất là tập trung hoàn thành các nhiệm vụ xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị trong 100 ngày và các nhiệm vụ đột phá về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị; kịp thời báo cáo đề xuất cấp có thẩm quyền đối với các nội dung vượt thẩm quyền.
Bộ Công Thương đẩy mạnh chuyển đổi số và cung cấp dịch vụ công trực tuyến.
Đồng thời, xác định thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên; không coi đây là nhiệm vụ riêng của cơ quan chuyên môn; việc triển khai phải đồng bộ, quyết liệt trong toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, tạo điều kiện để doanh nghiệp và người dân tích cực tham gia.
Các cơ quan chủ trì nhiệm vụ, thủ trưởng đơn vị phải rà soát từng nhiệm vụ, xác định rõ trách nhiệm, sản phẩm và thời hạn hoàn thành; chịu trách nhiệm đến cùng về tiến độ, chất lượng, không để tình trạng chậm trễ, kéo dài qua nhiều tháng, nhiều quý.
Người đứng đầu các cấp phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW thuộc phạm vi phụ trách; nhiệm vụ thuộc thẩm quyền phải chủ động giải quyết, nhiệm vụ vượt thẩm quyền phải kịp thời báo cáo, đề xuất cấp có thẩm quyền, không chờ đợi, đùn đẩy, né tránh trách nhiệm.
Bên cạnh đó, cụ thể hóa đầy đủ, rõ ràng các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp được giao phù hợp với điều kiện, đặc thù, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công Thương phân công đầu mối; đồng thời phân công đơn vị đầu mối chủ trì, phối hợp thực hiện đảm bảo “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền) và tổ chức triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả, biến mục tiêu thành hiện thực.
Về công tác chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện, Kế hoạch yêu cầu, các Thứ trưởng phụ trách lĩnh vực thường xuyên chỉ đạo các đơn vị chức năng triển khai thực hiện Quyết định này và các Kế hoạch của Bộ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; tiếp tục chỉ đạo việc tăng cường phối hợp, làm việc với các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp, viện, trường và các đơn vị có liên quan để bảo đảm hoàn thành các nhiệm vụ được giao; chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng về kết quả thực hiện.
Có thể thấy, từ hoàn thiện thể chế, xây dựng hạ tầng và dữ liệu số đến cải cách thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công và xử lý các điểm nghẽn, chuyển đổi số tại Bộ Công Thương đang được triển khai theo hướng rõ việc, rõ trách nhiệm và lấy kết quả làm thước đo. Đây cũng là nền tảng để những nhiệm vụ của Nghị quyết số 57-NQ/TW không dừng ở định hướng, kế hoạch, mà từng bước chuyển hóa thành những thay đổi cụ thể trong quản trị, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp.
