Ông Dương Đức Anh, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hóa (Bộ Công Thương) đã có cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương về những định hướng nghiên cứu của Viện nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; đồng thời chia sẻ các giải pháp đồng hành cùng doanh nghiệp trong tự động hóa, ứng dụng công nghệ và thúc đẩy nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn...

Ông Dương Đức Anh: Theo tôi, đây là một định hướng rất đúng và có ý nghĩa lâu dài đối với hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thực tế cho thấy, để khoa học, công nghệ thực sự đóng góp vào năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, các viện nghiên cứu không chỉ dừng ở việc tạo ra kết quả nghiên cứu, mà quan trọng là đưa được kết quả đó vào phục vụ sản xuất, đồng thời gắn với đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Ở góc độ một viện nghiên cứu trong lĩnh vực điện tử, tin học và tự động hóa, chúng tôi nhận thức rõ yêu cầu này và định hướng hoạt động nghiên cứu theo hướng gắn với nhu cầu thực tế, bài toán cụ thể của sản xuất và khả năng làm chủ công nghệ. Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, chúng tôi luôn đồng hành và xác định lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Khi doanh nghiệp có nhu cầu về công nghệ hoặc đổi mới công nghệ cho sản xuất, chúng tôi sẽ cùng trao đổi, xây dựng dự án, đề tài phù hợp với nhu cầu đó. Cách làm này giúp kết quả nghiên cứu có địa chỉ ứng dụng cụ thể ngay từ đầu, đồng thời rút ngắn khoảng cách từ phòng thí nghiệm đến sản xuất.

Không chỉ dừng lại ở việc hoàn thành một nghiên cứu, chúng tôi còn quan tâm đến bước tiếp theo của sản phẩm sẽ được ứng dụng như thế nào, thử nghiệm ra sao, đánh giá hiệu quả trong thực tế như thế nào và tiếp tục hoàn thiện sau khi nhiệm vụ kết thúc. Theo tôi, đây là một khâu rất quan trọng để một kết quả nghiên cứu thực sự trở thành sản phẩm có giá trị và có khả năng đi vào đời sống sản xuất.
Tôi cho rằng, để các viện nghiên cứu trở thành những chủ thể nghiên cứu mạnh, cần hình thành hệ sinh thái liên kết chặt chẽ hơn giữa viện nghiên cứu, trường đại học và các đơn vị sản xuất, trong đó mỗi bên phát huy thế mạnh của mình. Viện nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ; trường đại học tham gia đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực; còn các đơn vị sản xuất đặt ra bài toán thực tiễn, phối hợp thử nghiệm và tiếp nhận kết quả nghiên cứu.

Ông Dương Đức Anh: Hiện nay, theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, VIELINA xác định rõ mục tiêu là hoạt động nghiên cứu khoa học phải gắn với nhu cầu thực tiễn, với bài toán phát triển của ngành Công Thương và đặc biệt là phải tạo ra năng lực công nghệ, sản phẩm và giải pháp có khả năng ứng dụng. Trên tinh thần đó, Viện đang triển khai theo 3 hướng chính.
Một là, Viện tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, tư vấn và đề xuất chính sách khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo phục vụ công tác quản lý và phát triển ngành Công Thương. Qua đó, Viện phát huy vai trò của một đơn vị nghiên cứu chuyên ngành, cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoạch định chính sách, xác định các lĩnh vực công nghệ ưu tiên và các bài toán cần tập trung giải quyết.
Hai là, Viện đang tập trung vào các nhiệm vụ phát triển công nghệ và sản phẩm công nghệ chiến lược của ngành Công Thương theo định hướng tại Quyết định số 808/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 2159/QĐ-BCT về Kế hoạch triển khai Quyết định số 808/QĐ -TTg của Bộ Công Thương. Đây là bước chuyển quan trọng trong định hướng nghiên cứu của Viện: Không chỉ nghiên cứu để có kết quả khoa học, mà hướng tới làm chủ công nghệ, phát triển sản phẩm và giải pháp có khả năng ứng dụng, từng bước nâng cao năng lực tự chủ công nghệ của doanh nghiệp và của ngành. Trong đó, Viện ưu tiên phát huy thế mạnh về điện tử, tin học, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, bản sao số và sản xuất thông minh, gắn với các bài toán về nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hóa chú trọng nghiên cứu khoa học gắn liền với thực tiễn.
Ba là, Viện tiếp tục triển khai nghiên cứu thông qua hợp tác trực tiếp với doanh nghiệp - đây là cách tiếp cận mà chúng tôi đặc biệt coi trọng. Chúng tôi luôn xác định nhiệm vụ khoa học, công nghệ luôn gắn liền, đồng hành cùng sản xuất, mà xuất phát từ nhu cầu nâng cao năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và tối ưu hóa trong các hoạt động của doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có một bài toán cụ thể, Viện cùng doanh nghiệp xác định yêu cầu, xây dựng nhiệm vụ, nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện và chuyển giao giải pháp. Như vậy, doanh nghiệp vừa là nơi đặt bài toán, vừa tham gia vào quá trình thử nghiệm và đánh giá kết quả; còn Viện tập trung vào nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ.
Điểm chúng tôi muốn nhấn mạnh là hiệu quả của nhiệm vụ không chỉ được đánh giá bằng số lượng báo cáo hay sản phẩm nghiên cứu, mà phải được thể hiện bằng những thay đổi cụ thể tại doanh nghiệp, chẳng hạn như năng suất tăng lên, tiêu hao năng lượng giảm xuống, chất lượng sản phẩm được cải thiện, chi phí vận hành giảm hoặc khả năng quản lý, giám sát và ra quyết định được nâng cao. Đây cũng là cách để rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến sản xuất và biến kết quả khoa học, công nghệ thành năng lực thực tế của doanh nghiệp.
Với cách tiếp cận này, chúng tôi kỳ vọng Viện không chỉ là nơi thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, mà ngày càng trở thành đối tác công nghệ của doanh nghiệp, đồng thời góp phần thực hiện các mục tiêu về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ chiến lược của ngành Công Thương.

Ông Dương Đức Anh: Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hóa với hơn 40 năm hình thành và phát triển, trong lĩnh vực điện tử, tin học, tự động hóa, chúng tôi có khả năng cung cấp, chế tạo thiết bị đo, tích hợp hệ thống tự động hóa cũng như xây dựng những phần mềm để quản lý sản xuất cho các doanh nghiệp.
Về cơ sở dữ liệu có thể cung cấp, chúng tôi đã có kinh nghiệm trong việc sử dụng các dữ liệu từ quá trình đồng hành cùng các doanh nghiệp thời gian qua để đưa trí tuệ nhân tạo vào quản lý sản xuất, hỗ trợ tối ưu hóa quá trình vận hành cũng như đánh giá những bất thường trong dây chuyền sản xuất, qua đó hỗ trợ công nhân vận hành, kỹ sư vận hành hoàn thiện hệ thống và sửa chữa những sự cố tức thời có khả năng xảy ra.
Các công trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của VIELINA mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực.
Bên cạnh đó, các sản phẩm, thiết bị phục vụ công tác an toàn, sử dụng trong mỏ hầm lò như: hệ thống giám sát khí mỏ; hệ thống tự động hóa điều khiển hầm bơm thoát nước; hệ thống phát thanh dùng trong mỏ than; hệ thống camera trong mỏ than; hệ thống thông tin cứu hộ trong mỏ than… Đây là dòng sản phẩm được Bộ Công Thương đưa vào danh mục bổ sung máy móc thiết bị, vật tư, nguyên liệu trong nước đã sản xuất được tại Quyết định số 812/QĐ-BCT ngày 15/3/2018. Những sản phẩm này đã được sử dụng trong các công ty khai thác than hầm lò thuộc TKV, vì vậy chúng tôi hoàn toàn có khả năng đồng hành cùng doanh nghiệp giải quyết vấn đề về công nghệ đó.
Một nội dung khác mà Viện có thể đồng hành, hỗ trợ các doanh nghiệp là việc hiệu chuẩn, kiểm định và đánh giá công nghệ nhập vào khi các doanh nghiệp sử dụng công nghệ nước ngoài đưa vào Việt Nam, để làm sao hoàn thiện hệ thống cũng như đáp ứng các yêu cầu pháp lý của nhà nước đối với doanh nghiệp trong việc nhập khẩu công nghệ và đánh giá hiện trạng công nghệ đó có phù hợp với quá trình sản xuất hiện nay hay không. Đó là những nội dung mà Viện có khả năng đồng hành cùng các doanh nghiệp, bên cạnh việc nghiên cứu khoa học, công nghệ và chuyển đổi số.

Ông Dương Đức Anh: Đối với Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hóa, bên cạnh hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Từ thực tiễn đồng hành với doanh nghiệp, tôi nhận thấy sau khi Nghị quyết số 57-NQ/TW được triển khai, nhận thức và nhu cầu của doanh nghiệp đối với chuyển đổi số, tiếp nhận và ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất đã có những chuyển biến rõ hơn. Doanh nghiệp quan tâm nhiều hơn đến việc ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả quản lý, tối ưu quy trình sản xuất và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh.
Tuy nhiên, mức độ tiếp cận và nhu cầu của doanh nghiệp cũng có sự khác nhau. Có thể nhìn ở ba nhóm gồm doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mỗi nhóm có điều kiện, năng lực và cách thức tiếp cận công nghệ khác nhau.
Đối với các doanh nghiệp quy mô lớn, khả năng tiếp nhận công nghệ tương đối đồng bộ, không chỉ ở từng thiết bị hay công đoạn mà có thể triển khai các hệ thống quản trị, quản lý sản xuất và kết nối dữ liệu như ERP, các hệ thống quản lý sản xuất... Qua đó, công nghệ được tích hợp sâu hơn vào hoạt động quản lý và vận hành.
Viện Nghiên cứu Điện tử, Tin học, Tự động hóa đã nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ trong nhiều lĩnh vực.
Trong khi đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có cách tiếp cận từng bước, phù hợp với nguồn lực và nhu cầu thực tế. Doanh nghiệp có thể bắt đầu từ một công đoạn cụ thể, tập trung vào số hóa dữ liệu, quản lý sản xuất hoặc tự động hóa một số khâu, sau đó tiếp tục mở rộng khi thấy hiệu quả. Đây là hướng đi phù hợp để doanh nghiệp từng bước nâng cao năng lực công nghệ mà không nhất thiết phải đầu tư đồng loạt ngay từ đầu.
Tuy nhiên, theo tôi, vấn đề quan trọng nhất không nằm ở việc doanh nghiệp tiếp nhận được công nghệ mới hay đầu tư được một hệ thống hiện đại, mà là khả năng làm chủ công nghệ sau khi tiếp nhận. Làm chủ ở đây không chỉ là biết sử dụng và vận hành, mà còn phải từng bước có khả năng tự quản lý, bảo dưỡng, bảo trì, xử lý những vấn đề phát sinh và chủ động nâng cấp hệ thống khi nhu cầu sản xuất thay đổi.
Nếu doanh nghiệp chỉ phụ thuộc hoàn toàn vào đơn vị cung cấp thì việc ứng dụng công nghệ mới mới dừng ở mức sử dụng. Còn khi doanh nghiệp có thể tự vận hành ổn định, xử lý các vấn đề kỹ thuật, bảo trì và từng bước cải tiến, nâng cấp công nghệ, khi đó mới có thể nói đến năng lực làm chủ công nghệ.
Theo tôi, đây cũng là hướng mà hoạt động chuyển giao công nghệ cần hướng tới: không chỉ chuyển giao một thiết bị hay một giải pháp, mà quan trọng hơn là giúp doanh nghiệp hình thành năng lực tiếp nhận, vận hành, làm chủ và tiếp tục phát triển công nghệ phù hợp với nhu cầu sản xuất.

Ông Dương Đức Anh: Theo tôi, mối liên kết giữa nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Chỉ khi ba chủ thể này cùng tham gia ngay từ đầu và đồng hành trong suốt quá trình nghiên cứu, chúng ta mới có thể hình thành một chuỗi khép kín từ đặt bài toán, nghiên cứu, thử nghiệm đến hoàn thiện và ứng dụng sản phẩm.
Trước hết, nhà nước giữ vai trò quản lý thông qua tạo ra cơ chế, chính sách và đầu tư nguồn lực ban đầu cho các hoạt động nghiên cứu, nhất là những nhiệm vụ có tính nền tảng, đòi hỏi thời gian dài.
Thực tế cho thấy, trong quá trình thử nghiệm và vận hành sản phẩm mới, có thể phát sinh những vấn đề ngoài dự kiến. Vì vậy, cần có cơ chế hỗ trợ và phương thức đánh giá phù hợp đối với các nhiệm vụ có tính thử nghiệm cao, qua đó tạo niềm tin để doanh nghiệp yên tâm đồng hành cùng các nhà khoa học, đồng thời khuyến khích mạnh mẽ hơn việc đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ khoa học, công nghệ, VIELINA luôn đồng hành và xác định lấy doanh nghiệp làm trung tâm.
Đối với nhà khoa học và các viện nghiên cứu, điều quan trọng là nghiên cứu phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của sản xuất, từ những bài toán cụ thể của doanh nghiệp và thị trường. Các nhà khoa học không chỉ tạo ra công nghệ, mà còn cần đồng hành trong quá trình thử nghiệm, hoàn thiện và chuyển giao, để sản phẩm nghiên cứu có khả năng ứng dụng cao hơn.
Về phía doanh nghiệp, cần tham gia thực chất hơn vào toàn bộ quá trình nghiên cứu. Sự tham gia đó không chỉ là nguồn kinh phí đối ứng, mà còn bao gồm nhân lực, cơ sở vật chất, dữ liệu, điều kiện thử nghiệm và những kinh nghiệm thực tiễn từ hoạt động sản xuất. Đây là những yếu tố rất quan trọng giúp nhà khoa học hoàn thiện sản phẩm và đánh giá chính xác khả năng ứng dụng của công nghệ.
Như vậy, sự phối hợp giữa “3 nhà” cần được hình thành xuyên suốt từ xác định nhu cầu, xây dựng nhiệm vụ, nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá đến hoàn thiện và đưa sản phẩm vào ứng dụng. Khi mỗi bên phát huy đúng vai trò của mình, kết quả nghiên cứu sẽ đến gần hơn với thực tiễn, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực dành cho khoa học, công nghệ.

Xin cảm ơn ông!