
Thành lập năm 1962, Viện Nghiên cứu Cơ khí - NARIME trực thuộc Bộ Công Thương là cơ quan nghiên cứu triển khai đầu ngành về khoa học và công nghệ, tư vấn thiết kế, chế tạo dây chuyền thiết bị đồng bộ trong lĩnh vực cơ khí - tự động hoá.
TS. Vũ Văn Khoa, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí (Bộ Công Thương) cho biết, trải qua 64 năm xây dựng và phát triển, hoạt động của Narime gắn chặt với các chương trình kinh tế lớn của đất nước. Qua các hợp đồng, đội ngũ cán bộ Narime tiếp cận yêu cầu về chất lượng, tiến độ, chi phí và độ tin cậy của sản phẩm. Đây là điều kiện để xác định bài toán nghiên cứu từ nhu cầu thực tế và đánh giá kết quả bằng khả năng ứng dụng.

Viện hiện có gần 450 nhân sự, gồm 320 cán bộ chính thức, còn lại là chuyên gia, lao động hợp đồng. Đội ngũ nhà khoa học hơn 200 kỹ sư, 72 thạc sỹ, 17 tiến sỹ được tích lũy qua các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, các dự án công nghiệp và hợp tác quốc tế, có khả năng phối hợp giữa cơ khí, điện, đo lường, điều khiển và quản lý dự án.
Bên cạnh đó, đội ngũ 13 nghiên cứu viên cao cấp/kỹ sư cao cấp, 44 nghiên cứu viên chính/kỹ sư chính là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ hiệu quả cho công tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và các hoạt động triển khai. Trong giai đoạn 2020-2026, Viện công bố 378 bài báo trong nước và quốc tế, xuất bản 12 sách chuyên khảo, có các sáng chế và kết quả sở hữu trí tuệ. Những kết quả này phản ánh nền tảng chuyên môn phục vụ phát triển công nghệ.
Về hạ tầng thử nghiệm: 4 phòng thí nghiệm của Viện gồm: Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ hàn và xử lý bề mặt; Phòng thí nghiệm thiết kế, chế tạo và thử nghiệm thiết bị nhà máy nhiệt điện; Phòng thí nghiệm tích hợp công nghệ, thiết bị trong dây chuyền sản xuất công nghiệp; VILAS1031 đang thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.
Viện Nghiên cứu Cơ khí đã khẳng định năng lực thiết kế, chế tạo trong nhiều lĩnh vực then chốt
Để tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa vai trò dẫn dắt của một viện đầu ngành, NARIME đang triển khai “Dự án đầu tư chiều sâu, nâng cao năng lực nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và thử nghiệm thiết bị ngành cơ khí - tự động hóa” theo Quyết định số 3629/QĐ-BCT ngày 15/12/2025 của Bộ Công Thương.
“Định hướng của Viện là kết hợp đầu tư hạ tầng với đào tạo nhân lực, tổ chức nhóm nghiên cứu và nhu cầu ứng dụng. Thiết bị cần được khai thác cho cả nghiên cứu, đánh giá sản phẩm và hợp tác với doanh nghiệp; đồng thời bổ sung chuyên gia các lĩnh vực mới, nâng cao ngoại ngữ, quản trị dự án và khả năng hợp tác quốc tế” - TS. Vũ Văn Khoa cho hay.

Cũng theo TS. Vũ Văn Khoa, NARIME lấy nhiệm vụ khoa học và công nghệ làm nền tảng để hình thành năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp hệ thống và tổ chức thực hiện dự án trong các lĩnh vực thủy điện, nhiệt điện, tự động hóa, xi măng, năng lượng mới, khai thác - chế biến khoáng sản và EPC/EPCM.
Thông qua quá trình này, Viện chuyển từ nghiên cứu ứng dụng sang phát triển sản phẩm công nghệ có mức độ hoàn thiện cao, gắn với địa chỉ ứng dụng và khả năng thương mại hóa. Đến nay, Viện đã hình thành và làm chủ nhiều nhóm công nghệ quan trọng trong các lĩnh vực nhiệt điện, thủy điện, bô xít - alumin - nhôm, điện mặt trời nổi, tự động hóa, phát điện nhiệt dư, ô tô và xe máy.
Trước yêu cầu thực tiễn, Viện đã đề xuất lên Bộ Công Thương 4 nhiệm vụ phát triển sản phẩm công nghệ chiến lược gồm: Thứ nhất, nghiên cứu, thiết kế, chế tạo và vận hành thử nghiệm hệ thống chiết tách, thu hồi, tinh chế gali trong dây chuyền alumin, hướng đến khai thác thêm sản phẩm giá trị cao.
Viện Nghiên cứu Cơ khí làm chủ công nghệ, nâng cao nội địa hóa, kiến tạo nền công nghiệp hiện đại
Thứ hai, làm chủ công nghệ thiết kế, chế tạo và tích hợp robot hàn cho một số trạm chính của dây chuyền hàn thân vỏ ô tô, nâng cao năng lực tự chủ thiết bị sản xuất.
Thứ ba, phát triển giải pháp quản lý, điều hành chuỗi kho - vận - cảng trên nền tảng bản sao số, gắn với mô hình bán thực nghiệm và ứng dụng tại tổ hợp gang thép - cảng biển quy mô lớn.
Thứ tư, nghiên cứu làm chủ thiết kế, tích hợp và chế tạo thử nghiệm hệ thống cấp điện sức kéo cho đường sắt đô thị và đường sắt liên vùng điện khí hóa. Đây là các nhiệm vụ đã đề xuất để xem xét, tổng hợp; việc triển khai cần gắn với phê duyệt, nguồn lực và đối tác ứng dụng.
NARIME xác định phát triển công nghệ chiến lược là quá trình lâu dài, lấy năng lực nghiên cứu làm nền tảng, nhu cầu doanh nghiệp làm động lực và sản phẩm ứng dụng làm thước đo. “Cách tiếp cận chung của Viện là lựa chọn phần việc phù hợp với năng lực, làm chủ từng bước, có sản phẩm đầu ra và địa chỉ ứng dụng. Với hướng công nghệ mới, cần khảo sát, thử nghiệm, đánh giá trước khi mở rộng; với công nghệ có nền tảng, cần chuẩn hóa và nâng khả năng cung cấp lặp lại” - TS. Vũ Văn Khoa nói.

Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí chia sẻ thêm, kinh nghiệm của NARIME cho thấy liên kết ba nhà có hiệu quả khi được tổ chức quanh một bài toán sản xuất và dự án cụ thể. Trong mô hình này, Nhà nước định hướng ưu tiên, đặt hàng, hỗ trợ nguồn lực và tạo điều kiện thử nghiệm, ứng dụng. Nhà khoa học thực hiện nghiên cứu, thiết kế, tiếp nhận và làm chủ công nghệ. Doanh nghiệp xác định nhu cầu, phối hợp đầu tư, cung cấp môi trường vận hành và đưa sản phẩm ra thị trường.
Quá trình làm chủ thiết bị cơ khí thủy công là ví dụ tiêu biểu. Từ dự án đầu tiên gắn với tiếp nhận chuyển giao công nghệ, Viện phối hợp với doanh nghiệp cơ khí để phát triển thiết kế, chế tạo và triển khai tại nhiều công trình tiếp theo.
Viện Nghiên cứu Cơ khí luôn xác định và coi hoạt động khoa học và công nghệ là trọng tâm
Sự kết nối giữa cơ chế của Nhà nước, năng lực nghiên cứu và khả năng sản xuất đã hình thành năng lực trong nước có thể duy trì qua nhiều dự án. Hợp tác với VinFast, Lix và các doanh nghiệp logistics cho thấy doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong xác lập yêu cầu và kiểm chứng sản phẩm.
Đối với công nghệ chiến lược, cần phát triển quan hệ này thành hợp tác dài hạn, trong đó các bên cùng xác định mục tiêu, đóng góp nguồn lực, tổ chức thử nghiệm và thống nhất phương án thương mại hóa ngay từ đầu.
Thỏa thuận hợp tác cần làm rõ trách nhiệm, quyền sở hữu và khai thác kết quả, chia sẻ lợi ích và rủi ro. Khi đó, liên kết ba nhà mới trở thành cơ chế tạo sản phẩm, tích lũy năng lực và mở rộng thị trường.

TS. Vũ Văn Khoa cho rằng, trong phát triển công nghệ chiến lược, khó khăn trước hết là nguồn nhân lực trình độ cao trong một số chuyên ngành mới còn thiếu; năng lực ngoại ngữ và quản trị dự án chưa đồng đều. Viện chịu áp lực cạnh tranh nhân lực với doanh nghiệp. Trong khi đó, phát triển công nghệ chiến lược cần đội ngũ ổn định, tích lũy kinh nghiệm lâu dài và có khả năng phối hợp liên ngành.
Vướng mắc tiếp theo là khoảng trống nguồn lực từ nghiên cứu đến thương mại hóa. Kinh phí nghiên cứu cần được bổ sung để đáp ứng yêu cầu chế tạo sản phẩm mẫu, thử nghiệm dài hạn, kiểm định, chứng nhận và hoàn thiện tại hiện trường.Khi đấu thầu trong nước còn thiếu hồ sơ hợp đồng tương tự, nên khó tiếp cận dự án đầu tiên...
Những kết quả trong nghiên cứu, chuyển giao khoa học, công nghệ của Narime đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực
Từ thực tế đó, Viện kiến nghị 4 nội dung: Một là, lựa chọn và đặt hàng nhiệm vụ theo sản phẩm đầu ra, nhu cầu thị trường và năng lực thực hiện. Mỗi nhiệm vụ cần xác định rõ đơn vị nghiên cứu, doanh nghiệp ứng dụng, lộ trình làm chủ và tiêu chí đánh giá.
Hai là, xây dựng cơ chế hỗ trợ sản phẩm lần đầu được thiết kế, chế tạo trong nước thông qua đặt hàng, thử nghiệm có kiểm soát hoặc mua sắm phù hợp tại dự án thực tế. Cần quy định trách nhiệm, tiêu chí nghiệm thu và chia sẻ rủi ro, tạo điều kiện để sản phẩm có cơ hội chứng minh năng lực vận hành.
Ba là, bố trí nguồn lực xuyên suốt từ nghiên cứu đến thử nghiệm công nghiệp và thương mại hóa; kết hợp ngân sách với đóng góp của doanh nghiệp theo từng giai đoạn. Đồng thời, bố trí kịp thời vốn cho dự án tăng cường năng lực nghiên cứu của Viện, bảo đảm hạ tầng đáp ứng nhiệm vụ và được khai thác hiệu quả.
Bốn là, hỗ trợ đào tạo, thu hút, giữ chân nhân lực và tăng cường hợp tác quốc tế. Chuyển giao công nghệ cần gắn với tài liệu, dữ liệu thiết kế, đào tạo và quyền khai thác cần thiết. Các dự án công nghiệp lớn cần tạo cơ hội cho tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào thiết kế, chế tạo, tích hợp, qua đó hình thành năng lực tự chủ bền vững.
