Đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống: Cần biến tinh thần

Để biến tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng thành các chương trình hành động cụ thể ở từng cấp, từng ngành, cần tập trung vào những vấn đề mang tính trọng tâm.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đặt ra tầm nhìn và mục tiêu phát triển rất cao cho giai đoạn 2026 - 2030. Để biến tinh thần Nghị quyết thành chương trình hành động cụ thể, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Cảnh Cường - Chuyên gia kinh tế - Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội).

Ông Nguyễn Cảnh Cường - Chuyên gia kinh tế - Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh:NVCC

Ông Nguyễn Cảnh Cường - Chuyên gia kinh tế - Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh:NVCC

4 yêu cầu biến tinh thần Nghị quyết thành hành động

Theo ông, đâu là yếu tố then chốt nhất trong khâu tổ chức và thực hiện để biến tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng thành những chương trình hành động cụ thể, có thể đo lường và kiểm chứng được trong thực tiễn?

Ông Nguyễn Cảnh Cường: Theo tôi, để biến tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV thành các chương trình hành động cụ thể ở từng cấp, ngành, cần tập trung 4 yêu cầu cơ bản. Thứ nhất, chuyển hóa mục tiêu chính trị thành mục tiêu quản trị. Nghị quyết Đại hội xác lập tầm nhìn và định hướng chiến lược ở tầm quốc gia. Nhưng khi đi vào thực thi, mỗi bộ, ngành, địa phương phải trả lời được những câu hỏi rất cụ thể, đó là: Mục tiêu nào thuộc trách nhiệm trực tiếp của đơn vị mình?; Chỉ tiêu định lượng nào đơn vị phải đạt?; Thời hạn và nguồn lực ở đâu?. Các chương trình hành động không dừng ở việc “liệt kê việc phải làm” mà phải có “cam kết kết quả phải đạt”.

Thứ hai, bảo đảm tính liên thông từ Trung ương đến địa phương. Chương trình hành động của địa phương phải bám sát cấu trúc mục tiêu của Trung ương; có bảng đối chiếu (mapping) thể hiện rõ mỗi nhiệm vụ địa phương đóng góp vào chỉ tiêu quốc gia như thế nào?; có cơ chế thẩm định trước khi phê duyệt. Tức là phải bảo đảm mạch dọc chính sách không bị đứt đoạn.

Thứ ba, lượng hóa và chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu đánh giá. Chương trình hành động chỉ có ý nghĩa khi có bộ chỉ số cụ thể để theo dõi. Không chỉ là chỉ tiêu tăng trưởng, mà còn là chỉ số về năng suất, cải cách thủ tục, chuyển đổi số, chất lượng dịch vụ công…

Quan trọng hơn, các chỉ tiêu này phải thống nhất giữa các cấp để có thể so sánh và đánh giá tiến độ thực hiện. Nếu mỗi nơi tự xây dựng một hệ thống khác nhau thì sẽ không thể đo lường hiệu quả chung của Nghị quyết.

Thứ tư, gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện. Cụ thể, chương trình hành động của mỗi bộ, ngành, địa phương cần xác định rõ: Ai là người chịu trách nhiệm chính; cơ chế kiểm tra, giám sát định kỳ; hình thức xử lý nếu không hoàn thành. Khi trách nhiệm cá nhân được gắn với kết quả đầu ra thì bộ máy vận hành hiệu quả hơn nhiều so với cơ chế trách nhiệm tập thể thuần túy.

Tóm lại, khâu then chốt không chỉ là ban hành chương trình hành động, mà là thiết kế được một hệ thống chuyển hóa từ Nghị quyết đến mục tiêu cụ thể, chỉ tiêu đo lường, phân công trách nhiệm đến cơ chế giám sát.

Nếu làm tốt 4 bước này, tinh thần của Đại hội sẽ chuyển hóa thành các chương trình hành động có thể kiểm chứng được kết quả trong thực tiễn. Tuy nhiên, để đạt được các yêu cầu cơ bản nêu trên, toàn hệ thống phải nâng cao chất lượng cán bộ và cải cách cấu trúc thể chế theo hướng đo lường được, quy trách nhiệm được và bám sát yêu cầu thực tiễn.

Nghị quyết đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên giai đoạn 2026 - 2030. Ảnh minh họa

Nghị quyết đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên giai đoạn 2026 - 2030. Ảnh minh họa

Nghị quyết đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên giai đoạn 2026 - 2030. Để đạt mức tăng trưởng hai con số ngay từ năm 2026, theo ông nền kinh tế cần hội đủ những điều kiện cốt lõi nào, đặc biệt về thể chế và ổn định vĩ mô?

Ông Nguyễn Cảnh Cường: Về điều kiện để đạt tăng trưởng GDP hai con số từ năm 2026, theo tôi, việc đầu tiên cần làm là ổn định vĩ mô vững chắc. Lạm phát phải được kiểm soát, tỷ giá linh hoạt nhưng phải trong biên độ dao động thấp, nợ công trong ngưỡng an toàn. Chính sách tiền tệ linh hoạt nhưng phải neo lãi suất thấp và kiềm chế phát hành để thúc đẩy đầu tư và kiểm soát lạm phát. Chính sách tài khóa phải lấy hiệu quả dài hạn làm tiêu chuẩn cốt lõi.

Bên cạnh đó, cải cách thể chế mạnh mẽ để phát triển một nền kinh tế thị trường hiện đại định hướng xã hội chủ nghĩa. Điều này bao gồm bảo vệ quyền tài sản, minh bạch hóa thủ tục, cắt giảm chi phí tuân thủ và giảm rủi ro chính sách. Tăng trưởng hai con số đòi hỏi mở rộng đầu tư công với các dự án phát triển hạ tầng, đồng thời phải dựa vào sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế tư nhân và các doanh nghiệp nước ngoài.

Cùng với đó, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và ứng dụng khoa học - công nghệ tiên tiến (công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, vật lý lượng tử, năng lượng hạt nhân dân dụng, quản trị hệ thống và đánh giá hiệu suất định lượng..) để nâng cao năng suất lao động trong các ngành kinh tế chủ lực có giá trị gia tăng cao, sử dụng nhiều lao động và có tác động lan tỏa như: năng lượng, công nghệ thông tin và phần mềm, sắt thép, vật liệu xây dựng, chế tạo cơ khí, sản xuất lúa gạo, thủy sản, cà phê, cao su, may mặc thời trang, giầy dép cao cấp, đồ gỗ.

Cải cách giáo dục, đào tạo kỹ năng mới, thu hút nhân tài và thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp - viện nghiên cứu - trường đại học. Đây là nhân tố cốt lõi để nâng cao năng suất và hiệu quả; mở rộng không gian phát triển mới: kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế không gian tầm thấp, công nghiệp bán dẫn, công nghiệp phần mềm và trí tuệ nhân tạo. Đồng thời, tiếp tục mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu đồng thời phát triển thị trường trong nước.

Đặc biệt, phải xác lập được niềm tin thị trường và niềm tin của các nhà đầu tư để khơi thông nguồn lực tài chính và nguồn lực tri thức của người Việt Nam tại nước ngoài và các nguồn lực trong nhân dân thông qua một thể chế nhất quán lấy sự phát triển của doanh nghiệp làm tiêu chuẩn cơ bản. Thuận lợi hóa hoạt động của các ngân hàng thương mại và trung tâm tài chính quốc tế để thị trường vốn được vận hành thông suốt với chi phí cạnh tranh đồng thời vẫn phải đảm bảo quản trị rủi ro hệ thống.

Để Nghị quyết Đại hội XIV đi vào cuộc sống, điều quan trọng nhất là chuyển từ tư duy “quản lý mệnh lệnh” sang “quản trị kiến tạo phát triển”. Ảnh minh họa

Để Nghị quyết Đại hội XIV đi vào cuộc sống, điều quan trọng nhất là chuyển từ tư duy “quản lý mệnh lệnh” sang “quản trị kiến tạo phát triển”. Ảnh minh họa

Bảo đảm Nghị quyết được triển khai đồng bộ

Nghị quyết nhấn mạnh xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số làm động lực chính. Vậy chúng ta cần làm gì để những động lực này thực sự trở thành lực kéo tăng trưởng kinh tế, thưa ông?

Ông Nguyễn Cảnh Cường: Để khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành lực kéo tăng trưởng, tôi cho rằng có 3 đột phá cần thực hiện: Thứ nhất, chuyển từ “quản lý khoa học” sang “đặt hàng và mua kết quả nghiên cứu”. Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào quy trình, mà cần xác định bài toán quốc gia, đặt hàng và chấp nhận rủi ro sáng tạo.

Thứ hai, tạo thị trường cho đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp chỉ đầu tư R&D (nghiên cứu và phát triển) khi họ nhìn thấy lợi nhuận và được bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Vì vậy, cần cải cách pháp luật về sở hữu trí tuệ, thuế cho doanh nghiệp công nghệ và cơ chế sandbox thử nghiệm theo yêu cầu của thị trường.

Thứ ba, thúc đẩy chuyển đổi số trong khu vực công. Khi bộ máy nhà nước vận hành trên nền tảng dữ liệu số, minh bạch và kết nối, thì doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi trực tiếp từ giảm chi phí giao dịch.

Đổi mới sáng tạo không thể là phong trào. Nó phải trở thành hệ sinh thái, nơi vốn, nhân lực, công nghệ và thị trường gặp nhau.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng cũng đặt vấn đề đổi mới công tác cán bộ, tăng cường kiểm soát quyền lực và phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân. Theo ông, cơ chế nào cần được thiết kế để bảo đảm Nghị quyết được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, tránh tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”?

Ông Nguyễn Cảnh Cường: Muốn tránh tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, theo tôi cần bốn cơ chế căn bản: Một là, minh bạch hóa toàn bộ tiến độ thực hiện Nghị quyết. Nếu các chỉ tiêu, chương trình hành động và kết quả thực hiện của từng bộ, từng địa phương được công khai định kỳ, thì áp lực xã hội sẽ buộc bộ máy phải vận động.

Hai là, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực. Trung ương cần trao quyền chủ động nhiều hơn cho địa phương, nhưng đồng thời phải có hệ thống giám sát độc lập và cơ chế kiểm tra thực chất.

Ba là, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp. Khi người dân và doanh nghiệp được tham gia góp ý, phản biện và đánh giá chính sách, thì quá trình thực thi sẽ năng động hơn.

Bốn là, thưởng phạt phân minh. Cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ phải được trọng dụng và khen thưởng xứng đáng. Cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ phải có cơ chế xử phạt rõ ràng.

Xin cảm ơn ông!

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Cảnh Cường: Để Nghị quyết Đại hội XIV đi vào cuộc sống, điều quan trọng nhất là chuyển từ tư duy “quản lý mệnh lệnh” sang “quản trị kiến tạo phát triển”. Với những cải cách thể chế đang diễn ra, tôi tin tưởng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV sẽ từng bước được hiện thực hóa.

Nguyễn Hoà (thực hiện)

Có thể bạn quan tâm