
Ảnh minh họa: Internet
CôngThương - Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006 quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài. Tuy nhiên, sau 6 năm ban hành, việc thực thi những vấn đề về hoạt động xuất nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, ủy thác, đại lý phân phối, gia công, quá cảnh theo Nghị định 12 đã bộc lộ nhiều bất cập.
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ,, Bộ Công Thương đang chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài.
Để đảm bảo chất lượng xây dựng dự thảo Nghị định, ngày 21/5/2012, Ban soạn thảo Nghị định phối hợp với Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên EU – Việt Nam MUTRAP III đã tổ chức Hội thảo nhằm lấy ý kiến tham gia trực tiếp của các Bộ, ngành, địa phương, các chuyên gia, các nhà khoa học, các doanh nghiệp, Hiệp hội ngành hàng đối với dự thảo Nghị định.
Kể từ năm 2006 đến nay, đã có khá nhiều văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn Nghị định được ban hành, trong đó có các quy định liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa như Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật 2006; Luật hóa chất; Luật Chất lượng, sản phẩm hàng hóa (năm 2007); những luật liên quan đến các hoạt động ngoại thương như Luật Xuất bản, Luật Truyền thông, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Bảo vệ môi trường, Luật An toàn thực phẩm… Chính phủ cũng đã ban hành rất nhiều nghị định như Nghị định về kinh doanh sản xuất phân bón, Nghị định số 40/2008/NĐ-CP quy định sản xuất kinh doanh rượu, Nghị định 84/2009/NĐ-CP về kinh doanh xăng dầu, Nghị định số 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo và các nghị định khác liên quan đến các lĩnh vực ngoại thương.
Theo Thứ trưởng Nguyễn Thành Biên, chính sự phức tạp, chồng chéo của hệ thống văn bản, cơ chế phối hợp thực thi giữa các bộ, ngành hữu quan nhiều khi thiếu chặt chẽ, không nhất quán nên những lỗ hổng trong cơ chế quản lý dễ bị lợi dụng. Các quy định hiện hành của Nghị định số 12/2006/NĐ-CP khó có thể đảm bảo được vai trò đầu mối cho sự thống nhất về cơ chế quản lý hoạt động xuất nhập khẩu đối với tất cả các mặt hàng.
Ngoài ra, một số quy định của Nghị định 12 về phân công trách nhiệm quản lý chuyên ngành đã không còn phù hợp; có nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành điều chỉnh một số mặt hàng đặc thù nên các danh mục hàng hóa ban hành kèm theo nghị định có nhiều điểm không còn phù hợp.
Nghị định ban hành vào thời điểm trước khi nước ta trở thành thành viên chính thức của WTO, mà trong tình hình mới hiện nay, khi vấn đề tăng cường quản lý nhập khẩu, giảm nhập siêu, bảo vệ sản xuất trong nước được đặc biệt quan tâm thì Nghị định cần bổ sung những quy định cụ thể hơn; một số quy định chưa được hướng dẫn cụ thể. Quá trình thực thi đã bộc lộ bất cập như quy định tại Điều 5 về cơ chế cho phép xuất nhập khẩu hàng hóa thuộc danh mục hàng hóa cấm xuất nhập khẩu.
Từ cuối năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Công Thương xây dựng và ban hành cơ chế xem xét, giải quyết việc cho phép xuất nhập khẩu hàng hóa thuộc danh mục này. Tuy nhiên, việc xây dựng cơ chế này tại văn bản hướng dẫn của cấp bộ khó có thể giải quyết được triệt để vấn đề nếu không sửa đổi trực tiếp các quy định liên quan tại Nghị định 12/2006/NĐ-CP.
Theo dự thảo sửa đổi Nghị định 12, có bổ sung quy định mới tại Điều 4 về “Cửa khẩu thông quan hàng hóa” như sau: Hàng hóa xuất khẩu được thông quan tại các cửa khẩu quốc tế, cảng biển quốc tế, cửa khẩu chính, cửa khẩu song phương, cửa khẩu phụ có đủ cơ quan kiểm soát chuyên ngành theo quy định; Hàng hóa nhập khẩu được thông quan tại các cửa khẩu quốc tế, cảng biển quốc tế, cửa khẩu chính và cửa khẩu song phương...
Đại diện của Tổng Cục Hải quan cho rằng, không nên quy định các hàng hóa xuất khẩu được phép xuất qua tất cả các cửa khẩu, còn hàng hóa nhập khẩu chỉ được qua những cửa khẩu chính như Dự thảo đề xuất. Bởi trong Điều 8 của Dự thảo đã quy định các bộ, ngành phải công bố danh mục hàng hóa không được phép xuất nhập khẩu theo mã HS 8 số, đây là những danh mục thuộc diện quản lý chuyên ngành và thường có độ ổn định ít nhất là 5 năm. Đó sẽ là căn cứ để Hải quan thực hiện cho phép hay không cho phép hàng hóa thông quan. Không những thế, hoạt động tạm nhập, tái xuất được quy định cho hàng hóa nhập khẩu vào các nước có chung biên giới Việt Nam.
Về quy định hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất, Tổng cục Hải quan đã đề nghị quy định cụ thể các hình thức tạm nhập, tái xuất khác. Tuy nhiên, theo ông Trần Thanh Hải- Phó Vụ trưởng Vụ xuất nhập khẩu Bộ Công Thương, việc liệt kê cụ thể như trên không cần thiết đối với các mặt hàng không thuộc danh mục cấm và phương tiện vận tải tạm nhập, tái xuất. Hơn nữa, việc quy định chi tiết như vậy có thể sẽ bị lợi dụng, gây khó khăn cho công tác quản lý mặt hàng thuộc danh mục cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu.
Trong bản dự thảo lần này, việc ủy thác và nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa được mở một cách tối đa. Nghĩa là thương nhân được ủy thác cho thương nhân khác xuất khẩu, nhập khẩu hoặc được nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu từ thương nhân khác các loại hàng hóa, trừ hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, Danh mục hàng hóa cấm nhập khẩu, tạm ngừng nhập khẩu hoặc trong trường hợp pháp luật có quy định khác về điều kiện để thương nhân được ủy thác xuát khẩu, nhập khẩu hàng hóa.
Quy định về đại lý mua, bán hàng hóa với nước ngoài, đối với hàng hóa thuộc Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, thương nhân chỉ được ký hợp đồng đại lý sau khi được Bộ Công Thương cấp phép.
Một điểm mới trong Dự thảo về quy định thanh lý, thanh khoản hợp đồng gia công hàng hóa có yếu tố nước ngoài đó là Bộ Tài chính hướng dẫn thủ tục thanh khoản hợp đồng gia công của bên nhận gia công với cơ quan hải quan. Căn cứ để thanh khoản hợp đồng gia công là lượng nguyên liệu, phụ liệu, vật tư nhập khẩu, lượng sản phẩm xuất khẩu theo định mức sử dụng nguyên liệu, phụ liệu, định mức tiêu hao vật tư và tỷ lệ hao hụt phù hợp với thực tế thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, với quy định về “định mức sử dụng, tiêu hao và tỷ lệ hao hụt nguyên phụ liệu, vật tư do các bên thỏa thuận trong hợp đồng gia công…” đã không nhận được sự đồng tình của các đại biểu.
Như vậy, Dự thảo sửa đổi nghị định số 12/2006/NĐ-CP vẫn đang được Bộ Công Thương tiếp thu ý kiến, tổng hợp, hoàn chỉnh để trình Thủ tướng Chính phủ trong quý 3 năm nay.




