Đào tạo nhân lực ngành Công Thương giai đoạn 2026–2030 cần bám sát nhu cầu doanh nghiệp, đặc biệt trong các lĩnh vực thương mại điện tử, logistics và xuất nhập khẩu. Phóng viên Báo Công Thương đã trao đổi với TS. Lâm Tuấn Hưng - Trưởng phòng Nghiên cứu Thương mại, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương về nội dung này.
TS. Lâm Tuấn Hưng - Trưởng phòng Nghiên cứu Thương mại, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương.
Ưu tiên đào tạo theo yêu cầu của từng lĩnh vực
- Thưa ông, dưới góc nhìn của ông, đâu là những lĩnh vực cần ưu tiên đào tạo nhân lực trong giai đoạn này, đặc biệt là thương mại điện tử, logistics và xuất nhập khẩu? Các cơ sở đào tạo cần thay đổi những nội dung gì trong chương trình để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động?
TS. Lâm Tuấn Hưng: Theo tôi, đào tạo nhân lực ngành Công Thương giai đoạn 2026–2030 cần xuất phát từ yêu cầu công việc của công chức, viên chức và người lao động tại doanh nghiệp. Nội dung đào tạo phải gắn với vai trò, trách nhiệm của từng nhóm trong thực hiện mục tiêu nâng cao năng suất, giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh theo định hướng tái cơ cấu ngành Công Thương đến năm 2030.
Đối với công chức, chương trình bồi dưỡng cần giúp người học hiểu rõ đối tượng quản lý, đặc điểm vận hành của lĩnh vực phụ trách và khả năng vận dụng kiến thức chuyên ngành vào tham mưu chính sách. Trong lĩnh vực thương mại, công chức cần nắm được hoạt động của doanh nghiệp bán buôn, bán lẻ, đơn vị logistics, sàn thương mại điện tử và người bán trên sàn. Qua đó, họ có thể nhận diện nguyên nhân gây trở ngại trong lưu thông hàng hóa, đề xuất giải pháp tạo thuận lợi cho kinh doanh, bảo đảm cạnh tranh và quyền lợi người tiêu dùng.
Với viên chức tại các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và đơn vị cung cấp dịch vụ chuyên môn, nội dung bồi dưỡng cần bám sát nhiệm vụ đảm nhận. Giảng viên cần cập nhật thay đổi về công nghệ, thị trường và yêu cầu nghề nghiệp; người làm nghiên cứu cần nâng cao năng lực phân tích chính sách, xử lý dữ liệu và đánh giá hiệu quả đầu tư. Các nhiệm vụ chuyên môn gắn với nhu cầu doanh nghiệp cũng tạo điều kiện để người học tiếp cận quy trình thực tế, kiểm chứng khả năng áp dụng kiến thức và nâng cao chất lượng nghiên cứu, giảng dạy.
Đối với nhân lực doanh nghiệp, đào tạo cần phục vụ đổi mới mô hình kinh doanh, nâng cao năng suất và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Trong công nghiệp, cần chú trọng các năng lực về thiết kế, phát triển sản phẩm, chế tạo, quản lý chất lượng và tổ chức nhà cung cấp. Trong lĩnh vực năng lượng, cần quan tâm đến vận hành an toàn, hiệu quả sử dụng năng lượng, làm chủ công nghệ và tổ chức triển khai dự án.
Với lĩnh vực thương mại, cần tập trung vào năng lực tổ chức nguồn hàng, phát triển dịch vụ và điều phối chuỗi cung ứng. Đào tạo thương mại điện tử nên chú trọng quản trị kinh doanh trên môi trường số, khai thác dữ liệu để phát triển thị trường và nâng cao hiệu quả hoạt động. Đối với logistics, trọng tâm là tổ chức dịch vụ đáp ứng nhu cầu sản xuất, lưu thông hàng hóa và kết nối các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Trong xuất nhập khẩu, người học cần được trang bị kiến thức về thị trường, phát triển khách hàng, đàm phán kinh doanh quốc tế và ngoại ngữ chuyên ngành gắn với yêu cầu giao dịch thực tế.
Để đáp ứng những yêu cầu này, cơ sở đào tạo và đơn vị sử dụng lao động cần thống nhất về năng lực đầu ra, từ đó lựa chọn nội dung, phương pháp giảng dạy và cách đánh giá phù hợp. Đào tạo dài hạn cần chú trọng kiến thức chuyên môn và phương pháp làm việc; các chương trình bồi dưỡng cần cập nhật kiến thức, kỹ năng theo sự thay đổi của nghề nghiệp và vị trí việc làm. Sự phối hợp giữa hai bên cần được duy trì liên tục để người học có điều kiện vận dụng kiến thức vào thực tiễn.
Cập nhật kiến thức chuyên sâu về hội nhập và FTA
- Doanh nghiệp xuất nhập khẩu đang phải đáp ứng ngày càng nhiều yêu cầu về quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc và các quy định của thị trường nhập khẩu. Theo ông, chương trình đào tạo nhân lực thương mại cần cập nhật những kiến thức, kỹ năng chuyên sâu nào để hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA), mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh?
TS. Lâm Tuấn Hưng: Theo tôi, đào tạo về hội nhập cần gắn việc thực thi các cam kết thương mại với yêu cầu đa dạng hóa thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Người học cần hiểu tác động của những thay đổi trên thị trường quốc tế đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời nắm được yêu cầu phát triển nhà cung cấp trong nước và nâng cao giá trị xuất khẩu.
Đối với công chức phụ trách hội nhập và thương mại, cần ưu tiên năng lực phân tích cam kết, hướng dẫn thực thi và tham mưu chính sách tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại. Người học cần phân biệt quy định pháp luật với tiêu chuẩn tự nguyện và điều kiện giao dịch của khách hàng; đồng thời có khả năng đánh giá tác động của hội nhập đối với từng ngành hàng, gắn với năng lực đáp ứng của doanh nghiệp trong nước. Đây là cơ sở để đề xuất chính sách hỗ trợ và phối hợp giải quyết khó khăn, nhất là đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa khi tiếp cận thị trường quốc tế.
Với viên chức làm công tác nghiên cứu, giảng dạy, thông tin và xúc tiến thương mại, chương trình bồi dưỡng cần cập nhật những thay đổi của thương mại quốc tế vào hoạt động chuyên môn. Năng lực phân tích chính sách, thị trường, giải thích yêu cầu của thị trường nhập khẩu và kết nối doanh nghiệp với các đơn vị chuyên môn phù hợp là những nội dung cần được chú trọng.
Đối với nhân lực doanh nghiệp, đào tạo cần tập trung vào kiến thức về quy tắc xuất xứ, yêu cầu môi trường, truy xuất nguồn gốc và phòng vệ thương mại. Các nội dung này cần được cập nhật theo từng ngành hàng, phù hợp với định hướng phát triển và năng lực thực tế của doanh nghiệp.
Chẳng hạn, quy tắc xuất xứ trong Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) và yêu cầu liên quan đến phát thải đối với hàng hóa thuộc phạm vi Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU cần được xem xét trong mối liên hệ với năng lực sản xuất, tổ chức nguồn cung và khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp.
Bộ Công Thương tăng cường công tác đào tạo giai đoạn 2026–2030. Ảnh: Lê An
Nâng cao năng lực đàm phán, phát triển thị trường quốc tế
- Bên cạnh việc nắm vững các cam kết thương mại và quy định của thị trường nhập khẩu, doanh nghiệp cần nâng cao những năng lực nào để phát triển quan hệ đối tác, mở rộng thị trường xuất khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế, thưa ông?
TS. Lâm Tuấn Hưng: Theo tôi, đào tạo nhân lực phục vụ hoạt động kinh doanh quốc tế cần chú trọng năng lực phát triển thị trường, tổ chức kinh doanh và quản trị rủi ro. Nội dung đào tạo cần gắn với yêu cầu phát triển của từng doanh nghiệp, đặc điểm ngành hàng và những thay đổi của thị trường quốc tế.
Trước hết, doanh nghiệp cần nâng cao khả năng phát triển khách hàng và xây dựng quan hệ với đối tác. Vì vậy, chương trình đào tạo cần chú trọng kỹ năng đàm phán, giao dịch quốc tế và ngoại ngữ chuyên ngành, giúp người lao động chủ động hơn trong quá trình trao đổi, thương lượng và thiết lập quan hệ kinh doanh lâu dài. Việc đào tạo ngoại ngữ cần gắn với yêu cầu giao dịch và làm việc với đối tác, phục vụ trực tiếp hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Tôi cho rằng, nâng cao năng lực cạnh tranh cũng cần gắn với việc cải thiện vai trò, vị thế của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng. Đào tạo cần hướng đến phát triển nhà cung cấp trong nước, nâng cao năng lực tổ chức sản xuất, kinh doanh và cải thiện giá trị sản phẩm, dịch vụ. Những nội dung này cần phù hợp với năng lực thực tế và định hướng phát triển của doanh nghiệp, qua đó hỗ trợ quá trình mở rộng hoạt động kinh doanh quốc tế.
- Xin cảm ơn ông!
Việc kết hợp kiến thức hội nhập với kỹ năng phát triển thị trường, đàm phán và tổ chức kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong tiếp cận đối tác, phát triển quan hệ hợp tác và tìm kiếm cơ hội xuất khẩu. Đây cũng là những nội dung cần được chú trọng trong đào tạo nhân lực nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và vị thế của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng quốc tế.